Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (mã số 9.06) của tác giả Phan Thị Thu Hiền, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Hoàng Nga và TS. Phạm Thị Nguyệt, mang tiêu đề: "Cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam".

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc trưng cấu trúc tài chính của Việt Nam: một hệ thống tài chính dựa chủ yếu vào ngân hàng (bank-based financial system), nơi thị trường chứng khoán chưa phát triển hoàn thiện và gánh nặng cung cấp vốn cho nền kinh tế dồn lên vai các ngân hàng thương mại. Hoạt động ngân hàng có tính chất nhạy cảm, dễ bị tổn thương trước các cú sốc vĩ mô và biến động từ quá trình hội nhập quốc tế sau khi gia nhập WTO. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bộc lộ nhiều điểm yếu về nợ xấu, năng lực thanh khoản và áp lực hạn chế về nguồn lực ngân sách nhà nước trong quá trình tái cơ cấu.

Trong bối cảnh đó, Nhật Bản là quốc gia có nhiều điểm tương đồng về cấu trúc hệ thống tài chính: ngân hàng đóng vai trò trung tâm cung ứng vốn gián tiếp, hệ thống từng mang tính khép kín và hướng nội, tồn tại sự can thiệp mang tính bảo hộ của chính phủ, coi trọng các mối quan hệ nhóm giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Sự đổ vỡ bong bóng giá tài sản đầu những năm 1990 đã đẩy Nhật Bản vào "Thập kỷ mất mát" với tỷ lệ nợ xấu tăng cao và khủng hoảng ngân hàng nghiêm trọng, buộc chính phủ Nhật Bản phải tiến hành cải cách sâu rộng giai đoạn 1990 - 2005. Việc nghiên cứu có hệ thống tiến trình cải cách của Nhật Bản giúp cung cấp các luận cứ thực tiễn để Việt Nam vận dụng trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu quốc tế trước đây chủ yếu tập trung vào giai đoạn khủng hoảng 1997 - 1998 hoặc các chính sách riêng lẻ (như cải cách Koizumi năm 2006 hay chính sách Abenomics sau này), chưa xâu chuỗi toàn diện và có hệ thống toàn bộ tiến trình cải cách 1990 - 2005 để rút ra bài học cho các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi; trong khi đó, các công trình trong nước thường tiếp cận cải cách ngân hàng gắn chung với cải cách vĩ mô hoặc chỉ nghiên cứu các khía cạnh vi mô riêng biệt (như quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại, sở hữu chéo, thị trường mua bán nợ).

Mục đích nghiên cứu của luận án là: nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện, khách quan về tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng ở Nhật Bản giai đoạn 1990 - 2005; rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thúc đẩy tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng ở Việt Nam có hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005, cũng như sự cần thiết phải tiến hành cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2030.
  2. Nghiên cứu thực tiễn cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 - 2005, những thành tích đạt được cùng những tồn tại phải đối mặt, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  3. Nghiên cứu thực tế cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 đến năm 2019.
  4. Trên cơ sở nghiên cứu thực tế ở Nhật Bản và Việt Nam, đề xuất một số giải pháp cho cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2030.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống ngân hàng ở một quốc gia và bài học kinh nghiệm. Phạm vi nghiên cứu được phân định:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động cải cách hệ thống ngân hàng ở Nhật Bản và tác động của cải cách đến nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Nhật Bản; rút ra hàm ý cho Việt Nam, trong đó phạm vi nghiên cứu đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam tập trung chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống ngân hàng Nhật Bản và Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đối với Nhật Bản, tập trung vào giai đoạn 1990 - 2005, thời kỳ Nhật Bản trải qua 4 giai đoạn khủng hoảng gồm: 1992 - 1993 (giai đoạn I), 1995 (giai đoạn II), 1997 - 1999 (giai đoạn III) và 2001 - 2002 (giai đoạn IV). Đối với Việt Nam, tập trung vào thực trạng cải cách giai đoạn 2011 - 2019 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2020 – 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng và khủng hoảng ngân hàng trên thế giới:

  • Về mục tiêu và phạm vi cải cách: Báo cáo của IMF (1999) xác định ba mục tiêu của cải cách ngân hàng gồm củng cố hiệu quả hoạt động/khả năng thanh toán, cải thiện chức năng trung gian tài chính và khôi phục niềm tin của công chúng; Waxman (1998) phân tích cách tiếp cận giải quyết đổ vỡ ở từng ngân hàng đơn lẻ so với cải cách toàn hệ thống.
  • Về nguyên nhân khủng hoảng hệ thống ngân hàng: Goldstein và Turner (1996), Klingebiel và Caprio (1996) phân loại ba nhóm nguyên nhân: vi mô (thiếu vốn, vi phạm quy trình cho vay, quản trị yếu kém), vĩ mô (tăng trưởng nóng, biến động giá cả) và có tính hệ thống (ngân hàng nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, định hướng tín dụng can thiệp, khuôn khổ pháp lý và giám sát chưa hoàn chỉnh). Keeton và Morris (1987), Sinkey và Greenwalt (1991), Keeton (1999), Javed và Khurshid (2016) chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh, hạ chuẩn tín dụng với tỷ lệ nợ xấu. Strauss-Kahn (2009) chỉ ra các dấu hiệu cảnh báo sớm bất ổn ngân hàng và nhấn mạnh vai trò người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương.
  • Về các biện pháp tái cấu trúc và xử lý nợ xấu: Dziobek và Pazarbasioglu (1997, 1998) khảo sát 24 quốc gia giai đoạn 1980 - 1995, chỉ ra các chính sách phổ biến gồm bơm vốn công, đóng cửa ngân hàng yếu kém, sáp nhập, thành lập công ty quản lý tài sản (AMC) và tư nhân hóa. Luc Laeven và Fabián Valencia (2012) xác định các điều kiện khủng hoảng hệ thống và các công cụ can thiệp quy mô lớn. Daniela Klingebiel (2000) phân tích việc sử dụng AMC tại 7 quốc gia (Phần Lan, Ghana, Thụy Điển, Mexico, Philippines, Tây Ban Nha, Mỹ). Ben Fung, Jason George, Stefan Hohl và Guonan Ma (2004) nghiên cứu mô hình AMC tại Đông Á (KAMCO của Hàn Quốc, IBRA của Indonesia, Danaharta của Malaysia, TAMC của Thái Lan, RCC của Nhật Bản, 4 AMC của Trung Quốc gồm Cinda, Huarong, Great Wall, Orient). Lee Myung-bak (2009) phân tích 6 nguyên tắc xử lý nợ xấu của Hàn Quốc với gói ngân sách công 127,6 tỷ USD (32,4% GDP năm 1997). Alicia García và Daniel Santabárbara (2004) làm rõ ba trụ cột cải cách ngân hàng của Trung Quốc. Borish, Long và Noel (2012), Matoušek và Sergi (2005) phân tích mối quan hệ giữa xử lý nợ xấu ngân hàng và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại các nền kinh tế chuyển đổi Trung và Đông Âu.

Nhóm nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng tại Nhật Bản:

  • Maximilian J. B. Hall (2000) phân tích thực trạng công bố thông tin nợ xấu của Bộ Tài chính Nhật Bản (MOF) và yêu cầu minh bạch hóa từ Cơ quan Giám sát Tài chính (FSA). Cargill, Hutchison và Ito (2000) nghiên cứu chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái của Nhật Bản. Kimura Takeshi (2001) chỉ ra nguyên nhân nợ xấu xuất phát từ các khoản vay lớn cho ngành bất động sản, xây dựng và phân phối. Hiroshi Nakaso (2001) phân tích chính sách quản lý khủng hoảng của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ). Elijah Brewer III, Hesna Genay, William Curt Hunter và George G. Kaufman (2003) kiểm định tác động lan tỏa từ sự thất bại của các ngân hàng lớn giai đoạn 1997 - 1998. Masahiro Kawai (2004) làm rõ quá trình sụp đổ bong bóng giá tài sản và các gói chính sách toàn diện sau năm 1998. Dieter Gerdesmeier, Francesco Paolo Mongelli và Barbara Roffia (2009) so sánh BoJ với FED, ECB và BoE. R. Vollmer (2009) so sánh mô hình giám sát ngân hàng giữa Nhật Bản và Đức. Lê Trần (2010), Nguyễn Hương Giang (2010) đánh giá mức độ độc lập của BoJ. Báo cáo thường niên của BoJ (2005 - 2015) và nghiên cứu của Ủy ban Kinh tế APEC (2017) phân tích các chương trình cải cách của Thủ tướng Koizumi. Phạm Quý Long (2017, 2018) nghiên cứu tác động của các công cụ tiền tệ trong chính sách Abenomics.

Nhóm nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng tại Việt Nam:

  • Trần Quang Minh và Ngô Xuân Bình (2004) phân tích kinh nghiệm tái cơ cấu tài chính Hàn Quốc. Nguyễn Hồng Sơn (2012) phân tích các nguyên tắc tái cấu trúc ngân hàng và tính độc lập của ngân hàng trung ương. Viện Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nghiên cứu kinh nghiệm cơ cấu lại nền kinh tế của các nước châu Á. Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) nghiên cứu quy trình quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Vũ Thành Tự Anh (2013) sử dụng lý thuyết ủy quyền - thừa hành để phân tích sở hữu chéo giữa tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế. Tô Ánh Dương (2013) đánh giá kết quả phân loại 3 nhóm tổ chức tín dụng trong tái cơ cấu của Ngân hàng Nhà nước. Đào Duy Huân (2013) phân tích thực trạng thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung lấp đầy khoảng trống về một công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện quá trình cải cách ngân hàng Nhật Bản xuyên suốt giai đoạn 1990 - 2005 từ góc độ kinh tế quốc tế, gắn kết giữa lý luận tái cấu trúc hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng với thực tiễn xử lý nợ xấu, cải cách thể chế giám sát và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách có tính tương thích cao với điều kiện thực tế của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và khung phân tích chuyên ngành:

  • Khái niệm hệ thống ngân hàng và các mô hình tổ chức: Phân tích mô hình ngân hàng một cấp (kết hợp phát hành tiền và cấp tín dụng, nhược điểm không kiểm soát được cung tiền), mô hình ngân hàng hai cấp (ngân hàng trung ương thực hiện điều hành chính sách tiền tệ, quản lý vĩ mô; ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi, cho vay và dịch vụ thanh toán) và mô hình ba cấp (bổ sung các ngân hàng chính sách).
  • Mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương (NHTW): Phân biệt mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ (phổ biến tại các nước Đông Á và khối chuyển đổi, tạo thuận lợi trong việc phối hợp chính sách tiền tệ và tài khóa nhưng dễ làm giảm tính chủ động kiểm soát lạm phát dài hạn) và mô hình NHTW độc lập với Chính phủ (như FED, BoJ, ECB, Thụy Sỹ, giúp tăng cường kỷ luật tiền tệ và tránh áp lực chi tiêu ngân sách).
  • Khái niệm cải cách và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng: Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo IMF (1997) bao gồm: tái cơ cấu tài chính (tăng vốn, xử lý tài sản xấu, khôi phục thanh khoản), tái cơ cấu hoạt động (nâng cao năng lực quản trị, hệ thống kế toán, thẩm định tín dụng) và giám sát an toàn. WB (1998) nhấn mạnh mục tiêu duy trì hệ thống thanh toán và khả năng tiếp cận tín dụng. Tác giả luận án định nghĩa: "Cải cách hệ thống ngân hàng là thực hiện các biện pháp điều chỉnh lớn đối với các cấu trúc bộ phận trong hệ thống ngân hàng và được hoạch định với mục tiêu rõ ràng, có chương trình, lộ trình cụ thể nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống ngân hàng; nhằm mục đích duy trì sự phát triển ổn định (bền vững, an toàn) và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và trung gian tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM".
  • Khung phân tích về chủ thể và nguồn lực: Khảo sát của Hawkins (1999) chỉ ra rằng nếu NHTW độc quyền chủ trì tái cấu trúc thì tiến trình dễ bị chậm và thiếu minh bạch; do đó các quốc gia thường thiết lập các ủy ban hoặc cơ quan chuyên trách độc lập để chỉ đạo cải cách. Nguồn lực tài chính bao gồm tái cấp vốn từ ngân sách, phát hành trái phiếu chính phủ thông qua bảo hiểm tiền gửi, sử dụng các công ty quản lý tài sản (AMC) và huy động vốn tư nhân.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án:

  • Luận án thuộc hướng tiếp cận kết hợp giữa phân tích định tính thể chế và thống kê mô tả, không sử dụng các mô hình kinh tế lượng định lượng phức tạp hay kiểm định p-value.
  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Khai thác từ Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), Ủy ban Basel, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ), cùng các cơ sở dữ liệu quốc tế như EBSCOhost, ProQuest, ScienceDirect, Bankscope.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp, xử lý và mô tả chuỗi dữ liệu về kinh tế vĩ mô, cung ứng tiền tệ, giá tài sản, quy mô nợ xấu, tỷ lệ an toàn vốn và cơ cấu nguồn vốn của Nhật Bản (1990 - 2005) và Việt Nam (2011 - 2019).
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Đánh giá thực trạng, đối chiếu kết quả cải cách, nhận diện các nguyên nhân thành công và hạn chế trong từng giai đoạn.
  • Phương pháp logic và lịch sử: Tái hiện tiến trình biến đổi của hệ thống ngân hàng và hệ thống chính sách của Nhật Bản và Việt Nam theo trình tự thời gian gắn liền với bối cảnh kinh tế - xã hội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến cải cách ngân hàng, khủng hoảng tài chính và xử lý nợ xấu. Tác giả điểm lại các nghiên cứu lý luận của IMF, WB, BIS và các học giả quốc tế về nguyên nhân khủng hoảng, các công cụ tái cơ cấu (Dziobek & Pazarbasioglu, 1997, 1998), vai trò của AMC (Klingebiel, 2000; Ben Fung et al., 2004), cũng như kinh nghiệm của các nước Đông Á (Hàn Quốc, Trung Quốc). Đồng thời, chương này tổng thuật các nghiên cứu về hệ thống ngân hàng Nhật Bản (Hall, 2000; Nakaso, 2001; Kawai, 2004) và các nghiên cứu về thực trạng tái cơ cấu ngân hàng thương mại, xử lý nợ xấu, sở hữu chéo tại Việt Nam (Nguyễn Hồng Sơn, 2012; Vũ Thành Tự Anh, 2013; Tô Ánh Dương, 2013). Từ đó, tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu và xác định hướng tiếp cận của đề tài.

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

Chương 2 tập trung xây dựng khung lý luận về hệ thống ngân hàng và tiến trình cải cách. Nội dung phân tích làm rõ sự khác biệt giữa mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ và NHTW độc lập, chức năng của NHTM (trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, thủ quỹ), và bản chất của hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng. Luận án phân tích động lực cải cách bắt nguồn từ yêu cầu phát triển của nền kinh tế và các cuộc khủng hoảng tài chính; làm rõ các chủ thể, đối tượng (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp) và nguồn lực tài chính tham gia cải cách.

Tiêu chí / Khía cạnh Nội dung lý luận cơ bản
Mục tiêu cải cách (IMF, 1997) Phục hồi khả năng thanh toán/sinh lời, hoàn thiện chức năng trung gian tài chính, khôi phục niềm tin công chúng
Trụ cột tái cơ cấu Tái cơ cấu tài chính (vốn, tài sản, nợ), tái cơ cấu hoạt động (quản trị, kế toán, thẩm định), giám sát an toàn
Chủ thể điều hành Khuyến nghị thành lập cơ quan chuyên trách độc lập để tránh xung đột lợi ích và bảo đảm tính minh bạch (Hawkins, 1999)
Công cụ xử lý nợ xấu Trích lập dự phòng, xử lý tài sản bảo đảm, chứng khoán hóa nợ, thành lập công ty quản lý tài sản (AMC) tập trung
Tiêu chuẩn an toàn Áp dụng hệ số an toàn vốn (CAR) và các quy chuẩn giám sát rủi ro của Ủy ban Basel

Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm tái cấu trúc của các nước châu Á sau khủng hoảng tài chính 1997 - 1998, chỉ ra các bước thực hiện gồm: sắp xếp lại bộ máy, xử lý ngân hàng yếu kém qua M&A hoặc giải thể, cơ cấu lại vốn chủ sở hữu, thành lập cơ quan đặc trách xử lý nợ xấu, nâng cao quản trị nội bộ và cải cách cơ quan giám sát.

Chương 3: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN 1990 - 2005

Chương 3 phân tích thực trạng hệ thống ngân hàng Nhật Bản từ khi bong bóng giá tài sản (chứng khoán và đất đai) sụp đổ đầu thập niên 1990, dẫn đến sự gia tăng nợ xấu và suy giảm tăng trưởng kinh tế qua 4 giai đoạn khủng hoảng (1992 - 1993, 1995, 1997 - 1999, 2001 - 2002). Tác giả phân tích các nhóm giải pháp cải cách mà Nhật Bản đã thực hiện:

  1. Ổn định hệ thống và bảo vệ người gửi tiền: Sử dụng Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Nhật Bản (DICJ) để bảo đảm tiền gửi và can thiệp thanh khoản.
  2. Tái cấp vốn công và xử lý nợ xấu: Thực hiện các đợt bơm vốn công lớn vào các ngân hàng vào tháng 3/1998 và tháng 3/1999 nhằm nâng cao hệ số CAR. Thành lập Công ty Thu hồi và Xử lý Nợ (RCC) để mua lại và xử lý các khoản nợ xấu từ các tổ chức tín dụng đổ vỡ và các ngân hàng hoạt động.
  3. Loại bỏ ngân hàng yếu kém và hợp nhất hệ thống: Buộc các ngân hàng mất khả năng thanh toán đóng cửa hoặc quốc hữu hóa tạm thời (như trường hợp Ngân hàng Tín dụng Dài hạn Nhật Bản - LTCB, Ngân hàng Tín dụng Nippon - NCB); thúc đẩy quá trình sáp nhập các ngân hàng thương mại lớn thành các tập đoàn tài chính quy mô lớn (Megabanks).
  4. Cải cách ngân hàng gắn với tái cấu trúc doanh nghiệp: Thành lập Công ty Phục hồi Công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) vào năm 2003 nhằm phối hợp giữa việc xử lý nợ của ngân hàng với việc tái cấu trúc hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vay nợ.
  5. Đổi mới thể chế giám sát: Thành lập Cơ quan Giám sát Tài chính, sau đó nâng cấp thành Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản (FSAJ), tách chức năng thanh tra, giám sát ngân hàng ra khỏi Bộ Tài chính (MOF); áp dụng khung hành động khắc phục kịp thời (Prompt Corrective Action) và quy trình tự đánh giá chất lượng tài sản chặt chẽ.

Đánh giá quá trình cải cách, luận án chỉ ra kết quả: tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng lớn Nhật Bản đã giảm mạnh vào năm 2005, hệ thống ngân hàng được củng cố và an toàn vốn được nâng cao. Tuy nhiên, tồn tại lớn là sự chậm trễ trong việc can thiệp dứt khoát ở giai đoạn đầu (1990 - 1997) do tâm lý trì hoãn và trông đợi tài sản phục hồi giá, làm gia tăng tổng chi phí tái cơ cấu của toàn xã hội.

Chương 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM TRONG CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

Chương 4 đúc kết các bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản và đối chiếu với thực tiễn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2019:

  • Bốn bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản:
    1. Bài học về cách thức điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ chính sách tiền tệ và sự chủ động của NHTW.
    2. Bài học về phản ứng chính sách nhanh chóng, kiên quyết và minh bạch khi khủng hoảng xảy ra, tránh việc che giấu nợ xấu.
    3. Bài học về xử lý nợ xấu triệt để thông qua các định chế chuyên trách (RCC) và xây dựng thị trường mua bán nợ.
    4. Bài học về kết hợp chặt chẽ giữa cải cách hệ thống ngân hàng với tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp (mô hình IRCJ).
  • Thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam (2011 - 2019): Luận án phân tích cơ cấu tài sản, nguồn vốn, tăng trưởng tín dụng và diễn biến nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam. Giai đoạn 2012 - 2020 đạt được các thành tựu về ổn định thanh khoản, sáp nhập một số ngân hàng yếu kém, thành lập Công ty Quản lý Tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC); tuy nhiên vẫn còn hạn chế về quy mô vốn tự có, sở hữu chéo, năng lực xử lý tài sản bảo đảm và tính độc lập của cơ quan giám sát.
  • Hệ thống khuyến nghị giải pháp cho Việt Nam giai đoạn 2020 - 2030:
    • Nâng cao năng lực điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ chính sách tiền tệ của NHNN.
    • Hoàn thiện cơ chế ứng phó khủng hoảng và mạng lưới an toàn tài chính.
    • Đẩy mạnh xử lý nợ xấu thực chất: tăng cường nguồn lực tài chính cho VAMC, phát triển thị trường mua bán nợ thứ cấp, hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm.
    • Gắn kết xử lý nợ xấu ngân hàng với quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
    • Đổi mới công tác thanh tra, giám sát ngân hàng theo hướng nâng cao tính độc lập và áp dụng đầy đủ các chuẩn mực Basel II, Basel III.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Góp phần hệ thống hóa những lý thuyết, quan điểm cơ bản về cải cách hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (bank-based financial system).
  • Phân tích và làm rõ mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, cơ chế xử lý nợ xấu và quá trình tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp thực.
  • Xác lập các cơ sở lý luận về vai trò của cơ quan giám sát độc lập và sự cần thiết của việc tách biệt chức năng giám sát an toàn tài chính nhằm nâng cao tính minh bạch.

Về mặt thực tiễn:

  • Phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản trong suốt giai đoạn 1990 - 2005 qua 4 giai đoạn khủng hoảng, làm rõ các công cụ can thiệp thể chế: tái cấp vốn công, thành lập RCC xử lý nợ xấu, thành lập IRCJ phục hồi doanh nghiệp và tái lập FSAJ.
  • Đúc kết các bài học thành công và cả những hạn chế từ sự can thiệp chậm trễ của Nhật Bản để làm cơ sở đối chiếu với thực tiễn Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030, bao gồm: nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ, củng cố năng lực ứng phó khủng hoảng, hoàn thiện cơ chế xử lý nợ xấu thực chất gắn với thị trường mua bán nợ, phối hợp xử lý nợ xấu với tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, và nâng cao hiệu quả giám sát an toàn vi mô, vĩ mô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Nguồn số liệu nghiên cứu đối với Nhật Bản hoàn toàn là số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo quốc tế và tài liệu công bố của các cơ quan Nhật Bản.
  • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm tại Nhật Bản dừng lại ở mốc năm 2005 và thực tiễn tại Việt Nam tập trung đến năm 2019, chưa cập nhật sâu các biến động tài chính mới sau đại dịch COVID-19.
  • Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định tính thể chế và thống kê mô tả, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng để đo lường định lượng tác động của từng chính sách tái cơ cấu.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu tác động của các chính sách tiền tệ phi truyền thống (như chính sách lãi suất âm, nới lỏng định lượng) trong khuôn khổ Abenomics tại Nhật Bản sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
  • Áp dụng các mô hình định lượng để đánh giá hiệu quả xử lý nợ xấu và năng lực an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Basel II và Basel III sau năm 2020.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế Quốc tế, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học: Tham khảo khung lý luận về hệ thống ngân hàng (Chương 2) và phương pháp nghiên cứu lịch sử kinh tế, phân tích chính sách tài chính so sánh.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về khủng hoảng ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng và tái cấu trúc hệ thống tài chính quốc tế.
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và các ngân hàng thương mại: Tham khảo các phân tích thực chứng tại Chương 3 và các khuyến nghị chính sách tại Chương 4 về cơ chế xử lý nợ xấu tập trung qua AMC, kỹ thuật tái cấp vốn công, và cơ chế phối hợp tái cấu trúc ngân hàng gắn liền với khu vực doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn giai đoạn khủng hoảng của hệ thống ngân hàng Nhật Bản trong "Thập kỷ mất mát" được phân chia như thế nào? Trong giai đoạn 1990 - 2005, luận án xác định Nhật Bản trải qua 4 giai đoạn khủng hoảng:

  • Giai đoạn I (1992 - 1993): Tăng trưởng GDP sụt giảm mạnh sau khi bong bóng giá cổ phiếu và bất động sản sụp đổ.
  • Giai đoạn II (1995): Xuất hiện các đổ vỡ đầu tiên tại các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và hợp tác xã tín dụng.
  • Giai đoạn III (1997 - 1999): Khủng hoảng hệ thống nổ ra với sự sụp đổ của các định chế tài chính lớn như Yamaichi Securities, Ngân hàng Hokkaido Takushoku, Ngân hàng LTCB và NCB.
  • Giai đoạn IV (2001 - 2002): Tăng trưởng GDP ở mức âm, nợ xấu tiếp tục gia tăng buộc chính phủ phải triển khai Chương trình Phục hồi Tài chính (cải cách Koizumi).

2. Khái niệm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo IMF (1997) được luận án tổng kết gồm những cấu phần nào? Theo định nghĩa của IMF (1997) được dẫn trong Chương 2, tái cơ cấu ngân hàng hướng tới việc phục hồi khả năng thanh toán, sinh lời và khôi phục niềm tin công chúng, bao gồm 3 cấu phần cốt lõi:

  • Tái cơ cấu tài chính (Financial restructuring): Phục hồi thanh khoản và cải thiện bảng cân đối qua việc tăng vốn, giảm nợ xấu và nâng giá trị tài sản.
  • Tái cơ cấu hoạt động (Operational restructuring): Nâng mức lợi nhuận thông qua điều chỉnh chiến lược, nâng cao năng lực quản trị, hoàn thiện hệ thống kế toán và thẩm định tín dụng.
  • Giám sát an toàn: Hoàn thiện các quy tắc an toàn nhằm cải thiện chức năng trung gian tài chính của toàn bộ hệ thống.

3. Vai trò của Công ty Phục hồi Công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) thành lập năm 2003 là gì? IRCJ được thành lập nhằm giải quyết mối liên hệ chặt chẽ giữa nợ xấu ngân hàng và sự yếu kém của khu vực doanh nghiệp. IRCJ đóng vai trò mua lại các khoản nợ xấu từ các ngân hàng thứ cấp (ngoài ngân hàng chính), sau đó trực tiếp tham gia hỗ trợ tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp có khả năng phục hồi, giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng vỡ nợ và xử lý triệt để gốc rễ của nợ xấu ngân hàng.

4. Tại sao Nhật Bản quyết định thành lập Cơ quan Dịch vụ Tài chính (FSAJ) tách khỏi Bộ Tài chính (MOF)? Trước năm 1998, Bộ Tài chính Nhật Bản vừa quản lý tài khóa vừa quản lý, giám sát hệ thống ngân hàng, dẫn đến cơ chế bảo hộ hành chính (chính sách "đoàn tàu hộ tống" - convoy system) và thiếu minh bạch trong việc công bố nợ xấu. Việc thành lập FSAJ độc lập nhằm tách biệt chức năng hoạch định chính sách với chức năng thanh tra, giám sát; áp dụng cơ chế giám sát dựa trên thị trường và thực thi nghiêm ngặt khung hành động khắc phục kịp thời.

5. Luận án rút ra những bài học kinh nghiệm trọng tâm nào cho Việt Nam? Luận án rút ra 4 bài học trọng tâm: (1) Nâng cao năng lực điều tiết nền kinh tế bằng công cụ chính sách tiền tệ linh hoạt; (2) Chủ động nhận diện và xử lý sớm khủng hoảng, minh bạch thông tin nợ xấu; (3) Xây dựng cơ chế xử lý nợ xấu triệt để qua các định chế chuyên trách (như VAMC) gắn với phát triển thị trường mua bán nợ; (4) Kết hợp đồng bộ giữa tái cơ cấu hệ thống ngân hàng với tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Thu Hiền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cải cách hệ thống ngân hàng trong mô hình tài chính dựa vào ngân hàng và phân tích thực tiễn tiến trình cải cách của Nhật Bản giai đoạn 1990 - 2005. Công trình làm rõ các bài học thành công cũng như những hạn chế từ việc can thiệp xử lý nợ xấu, cơ cấu lại ngân hàng yếu kém và đổi mới mô hình giám sát tài chính tại Nhật Bản. Trên cơ sở đối chiếu với thực trạng hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2019, luận án đã đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030.