CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về thuế điện tử và hệ thống thuế điện tử 1. Nghiên cứu về thuế điện tử • Các nghiên cứu về sự khác biệt của thuế điện tử Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra nhiều điểm khác biệt của thuế điện tử. Với dịch vụ thuế theo hình thức thủ công, các hoạt động quản lý kê khai, tính thuế và nộp thuế được thực hiện theo phương thức tương tác trực tiếp giữa cán bộ thuế và NNT hay nói cách khác là việc áp dụng có giới hạn công nghệ thông tin trong quá trình cung cấp các dịch vụ về kê khai, nộp và thu thuế cho công dân, doanh nghiệp và các cơ quan khác của chính phủ.
Trong khi đó, sự khác biệt của thuế điện tử được thể hiện trên các nội dung sau: Thứ nhất, là sự khác biệt về hình thức cung cấp các dịch vụ công: từ trực tiếp sang trực tuyến (inline to online). Đối với dịch vụ thuế thông thường, tiếp xúc trực tiếp (face to face) là đặc trưng của hình thức giao tiếp giữa công chức với công dân và DN. Theo đó, công dân và DN phải gặp gỡ trực tiếp công chức tại trụ sở của cơ quan quản lý thuế để thực hiện quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ công. Mặc dù những giao dịch này có thể thực hiện thông qua việc trao đổi thư tín, nhưng theo các học giả thì nguyên lý cơ bản vẫn dựa trên mối quan hệ trực tiếp giữa công chức và công dân, DN.
Một trong những hệ quả của tiếp xúc trực tiếp là hiện tượng xếp hàng (inline). Các học giả cho rằng do cơ quan công quyền không thể thực hiện được các công việc với tất cả các công dân tại cùng một thời điểm trên cùng một địa điểm cho nên công dân phải xếp hàng chờ tại trụ sở của cơ quan công quyền để giải quyết những việc hành chính có liên quan (Alm và cộng sự, 2010, Calderon và cộng sự, 2014). Trong khi đó, thuế điện tử sử dụng cơ sở hạ tầng về thông tin và truyền thông để cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Áp dụng này cho phép công dân và DN không cần phải đến trụ sở cơ quan thuế mà họ chỉ cần ở nhà hoặc một nơi thuận tiện có thiết bị thông minh (như máy tính, điện thoại, ipad.) có kết nối mạng là có thể thực hiện các giao dịch về thuế.
Áp dụng này thay thế hình thức tiếp xúc trực tiếp, công dân và DN không cần phải xếp hàng và họ có thể tiếp nhận dịch vụ công vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Khối lượng công việc mà cơ quan thuế xử lý trong cùng một đơn vị thời gian vì thế cũng nhiều hơn (Alm và cộng sư, 2010, Calderon và cộng sự, 2014). 10 Thứ hai, là sự khác biệt trong sử dụng CNTT. Việc ứng dụng công nghệ dựa trên nền web và các thiết bị khác bao gồm máy tính và các thiết bị sao, lưu tin trong quá trình cung cấp các dịch vụ về thuế và tương tác giữa các cơ quan của chính phủ là đặc điểm cơ bản của thuế điện tử.
Trong khi đó, dịch vụ thuế theo hình thức thủ công chỉ làm việc trên hồ sơ và tài liệu bằng giấy, thể hiện thông qua việc tiếp xúc trực tiếp. Do đó kéo theo một trong những hệ quả có thể kể đến là các tài liệu đó được vận chuyển trực tiếp thay vì qua môi trường Internet hoặc dạng hồ sơ điện tử được lưu trong USB và CD-Rom như trong thuế điện tử. Sử dụng CNTT cũng mang lại hiệu quả vượt trội của thuế điện tử trong quản lý dữ liệu, quá trình phân loại, chỉ dẫn và tìm kiếm dữ liệu. Một điển hình khác của ứng dụng CNTT là tập trung hóa dữ liệu.
Đây là yếu tố then chốt giúp cơ quan quản lý thuế có thể quản lý và khai thác thông tin về NNT hay các DN một cách có hiệu quả (Hung và cộng sự, 2006, Calderon và cộng sự, 2014). Thứ ba, là tính bảo mật. Đối với dịch vụ thuế thông thường, vấn đề bảo mật được thực hiện một cách nghiêm ngặt nhờ vào việc chỉ sử dụng tài liệu bằng giấy và được bảo quản trong những nơi an toàn. Các tài liệu cũng được xác nhận bởi những người có thẩm quyền và tính pháp lý được đảm bảo.
Trong khi đó, thuế điện tử khác biệt được West (2005) phân biệt ở chỗ bảo mật dữ liệu dựa trên công nghệ kỹ thuật số. Để có thể sử dụng các CSDL thì người sử dụng phải được cung cấp một tên và mật khẩu. Bên cạnh đó, người ta còn sử dụng chữ ký điện tử để nâng cao tính bảo mật của hệ thống. Không những thế, hệ thống còn yêu cầu trong các giao dịch điện tử phải có những quy trình xác nhận, thậm chí là của bên thứ ba trước khi một giao dịch được thực hiện (Chen và cộng sự, 2015).
Cuối cùng là sự khác biệt về yếu tố con người. Thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin, thuế điện tử có thể thiết lập được hệ thống tương tác bán tự động hoặc tự động giữa cơ quan công quyền với công dân, DN và các cơ quan công quyền khác. Với áp dụng này thì số lượng lao động trực tiếp trong các cơ quan thuế bị cắt giảm. Trong khi đó, với khối lượng công việc được cắt giảm trong thuế điện tử, thì thuế truyền thống vẫn phải sử dụng một lực lượng lao động nhất định để thực hiện chúng.
Bên cạnh đó, thuế điện tử không những đòi hỏi công chức làm việc trong CQT phải có kỹ năng sử dụng máy tính và Internet mà đối với cả công dân và DN cũng phải có những kỹ năng nhất định trong quá trình tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến. Trong khi đó, thuế truyền thống yêu cầu công chức biết những kỹ năng làm việc và giao tiếp cơ bản để thực hiện công vụ. Vì vậy, thuế điện tử đòi hỏi đội ngũ công chức phải có kỹ 11 năng sử dụng máy tính và tương tác với các trang thông tin điện tử trong quá trình làm việc (Chen và cộng sự, 2015). • Các nghiên cứu về những lợi ích của thuế điện tử Các nghiên cứu quốc tế đã đề cập đến những lợi ích của thuế điện tử.
Theo đó, những lợi ích này được chia thành các nội dung sau: Thứ nhất, thuế điện tử là công cụ làm tăng tính hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý thuế. Ứng dụng này nâng cao cơ hội tiếp cận thông tin cho các bên tham gia nhờ vào việc quản lý tập trung cơ sở dữ liệu và chia sẻ thông tin một cách rộng rãi trên các cổng TTĐT. Thuế điện tử cũng giúp cắt giảm chi phí hành chính và tăng thu thuế. Ví dụ DN thay vì phải chuẩn bị hồ sơ bằng giấy, phải dành thời gian và di chuyển giữa các địa điểm để nộp hồ sơ thì nay những chi phí cho việc đó được cắt giảm.
Tiếp theo, thuế điện tử giúp cắt giảm thời gian và giảm thiểu sai sót trong quá trình xử lý hồ sơ thuế đối với cả cơ quan thuế, người dân và DN. Không chỉ cắt giảm thời gian di chuyển của công dân, DN và giữa các cơ quan công quyền mà việc phần mềm hóa các thủ tục hành chính, áp dụng các phần mềm trong truyền tải, xử lý, lưu trữ và sử dụng dữ liệu; đồng thời với việc quản lý và khai thác tập trung nguồn thông tin trên môi trường Internet đã giúp các cơ quan thuế xử lý công việc nhanh hơn (Calderon và cộng sự, 2014, Houérou và cộng sự, 2009). Thứ hai, thuế điện tử nâng cao khả năng phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Gauld, Gray & McComb (2009) đã coi việc áp dụng CNTT trong quản lý công đã tạo ra nền tảng nhằm kết nối các cơ quan của chính phủ.
Một mặt, chính phủ có thể quản lý tập trung thông tin trong toàn bộ hệ thống. Mặt khác CNTT có khả năng phá vỡ mọi ngăn cản giữa các cơ quan của chính phủ và góp phần xây dựng mối liên hệ bao trùm giữa các cơ quan này. Không những thế, các đại lý dịch vụ công của tư nhân cũng có thể được kết nối vào hệ thống nhằm phụ vụ tốt nhất nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Thứ ba, thuế điện tử nâng cao tính minh bạch trong hệ thống.
Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng tình trạng thiếu minh bạch và tham nhũng trong bộ máy hành chính đã trở thành sự cản trở rất lớn cho quá trình phát triển. Điều này sẽ tăng chi phí cho các DN có quy mô vừa và nhỏ, thậm chí là những DN lớn. Việc áp dụng thuế điện tử có thể ngăn chặn tham nhũng thông qua quá trình minh bạch hóa. Sự minh bạch hóa này thể hiện ở việc thiết kế hệ thống đơn giản, chuẩn mực trong quá trình cung cấp dịch vụ công.
Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương cho thấy để ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham nhũng cũng cần phải có một cuộc cách mạng để thay đổi cách ứng xử của công dân và những nỗ lực của hệ thống 12 giáo dục trong việc đề cao các giá trị trung thực, tính liêm khiết của mỗi công dân (Antonakas và cộng sự, 2013; Onji, 2014). Nghiên cứu về hệ thống thuế điện tử 1. Hệ thống thuế điện tử Hệ thống thuế điện tử là một nền tảng trực tuyến cho phép người nộp thuế truy cập các dịch vụ thuế thông qua internet (Wasao, 2014). Các dịch vụ thuế điện tử bao gồm: đăng ký mã số thuế, khai hồ sơ thuế, nộp thuế và hoàn thuế.
Hệ thống thuế điện tử lần đầu tiên được đưa vào hoạt động ở Hoa Kỳ với mục tiêu cung cấp dịch vụ hoàn thuế điện tử (Muturi và Kiarie, 2015). Maisiba và Atambo (2016) cho rằng hệ thống thuế điện tử góp phần đáng kể trong việc cải thiện mức độ tuân thủ thuế, vì nó tạo điều kiện cho NNT tiếp cận với các dịch vụ thuế nhanh hơn mà không cần đến cơ quan thuế. Haryani và cộng sự (2015) cũng chứng minh rằng một hệ thống thuế điện tử dễ sử dụng, an toàn, đáng tin cậy, cung cấp phương thức thanh toán dễ dàng, cung cấp nhiều dịch vụ và thân thiện với người dùng sẽ thúc đẩy việc tuân thủ thuế tự nguyện. Ngày nay, hệ thống thuế điện tử đã được áp dụng rộng rãi hầu hết các quốc gia (cả phát triển và đang phát triển), thậm chí ở cả một số nước châu Phi như Uganda, Nigeria, Rwanda và Kenya.
Xu hướng chung trên thế giới về quản lý thuế đã ngày càng thay đổi song song với sự phát triển của khoa học công nghệ.