Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm tranh tụng Pháp luật TTHS hiện hành không nêu khái niệm tranh tụng. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” và nguyên tắc này đã được thể chế hóa trong BLTTHS năm 2015 tại Điều 26. Thuật ngữ tranh tụng được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới và được ghi nhận là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hình sự [13, tr.
Ở Việt Nam, những năm gần đây các chuyên gia pháp lý có những bài viết đề cập vấn đề này với nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng “Tranh tụng là một thuật ngữ Hán nôm dùng để chỉ một cuộc tranh luận về một vụ án bằng cách các bên tham gia đưa ra lý lẽ, chứng cứ và các văn bản pháp luật làm cơ sở cho sự buộc tội hay bào chữa của mình để người thứ ba đứng giữa hai bên là Tòa án làm trọng tài phân xử [13 tr. Quan điểm này được nhiều tác giả đồng ý, nó thể hiện hoàn chỉnh, đầy đủ về chủ thể tham gia tố tụng, nội dung tranh tụng cũng như kết quả tranh tụng. Tranh tụng là một cuộc “chiến đấu” rất gay gắt trên các bình diện chứng cứ, lý lẽ và vận dụng pháp luật giữa bên buộc tội và bên gỡ tội.
Sự xuất hiện của Tòa án trong quá trình tranh tụng sẽ quyết định ai thuyết phục hơn trong lập luận chứng minh cho quan điểm của mình. Tranh tụng tồn tại một cách khách quan, khi xuất hiện chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử thì tranh tụng xuất hiện. Bên buộc tội và gỡ tội thể hiện quan điểm của mình, trên cơ sở đó HĐXX lắng nghe, xem xét và ra phán quyết lấy pháp luật làm căn cứ, lấy kết quả tranh tụng làm cơ sở. Quá trình tranh tụng ở nghĩa đầy đủ nhất chỉ có thể được tiến hành tại phiên tòa xét xử 6 với sự tham gia bình đẳng của các chủ thể buộc tội, gỡ tội và chủ thể khác dưới sự điều khiển của HĐXX.
Tuy nhiên, trong khái niệm này tác giả đã phủ nhận sự tồn tại tranh tụng trước khi mở phiên tòa. Quan điểm thứ hai, cho rằng “Tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau là tiền đề cần thiết, khách quan cho hoạt động xét xử” [12, tr. Tranh tụng trong TTHS là quá trình cọ xát các quan điểm, các lập luận giữa các bên đối lập theo quy định của pháp luật, Tòa án làm trọng tài phân xử khi quá trình đó lên “đỉnh điểm” nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền con người. Quan điểm này thể hiện toàn bộ “cục diện” của quá trình tranh tụng.
Bởi lẽ, tranh tụng là sự đối kháng về quan điểm, về luận cứ giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội. Nghĩa là, có hoạt động buộc tội và gỡ tội thì tranh tụng biểu hiện tập trung, công khai và đầy đủ nhất. Và sự xuất hiện của Tòa án cũng báo hiệu tranh tụng sắp đến hồi kết, với kết quả của nó là một phán quyết được tuyên. Tuy nhiên theo chúng tôi, quan điểm này vẫn còn thiếu, bởi thực tế không phải lúc nào việc tranh tụng tại phiên tòa cũng diễn ra theo hướng bên buộc tội và bên gỡ tội đối trọng nhau.
Có những vụ án, VKS và bị cáo vốn là hai bên đối trọng nhau trong cùng một vụ án có cùng quan điểm về vụ việc ngược lại với quan điểm của người bị hại. Hay cũng có vụ án bị cáo và bị hai cùng có chung quan điểm trái ngược với VKS. Theo tác phẩm: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tuc tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” do Tiến sỹ Lê Hữu Thể cùng một số tác giả đồng chủ biên, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật. Hà Nội 2013 thì thuật ngữ “tranh tụng” được sử dụng trong khái niệm về mô hình tố tụng- được hiểu với nghĩa là cách thức tổ chức hoạt động tố tụng 7 hình sự tìm đến sự thật khách quan của vụ án” [38, tr.
Theo các tác giả, về cách thức tiến hành tố tụng hình sự phổ biến trên thế giới hiện nay, đa số người thường hay nhắc đến mô hình tố tụng tranh tụng, thẩm vấn và mô hình tố tụng có đan xen, kết hợp. Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng thường được áp dụng tại các nước có truyền thống án lệ. Mô hình tranh tụng có những đặc điểm cơ bản sau đây: (1) Có sự phân định rành mạch quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS; trong đó Toà án có vai trò thụ động và trung lập, làm trọng tài điều khiển sự tranh tụng giữa các bên. (2) có hệ qui tắc phức tạp chi phối toàn bộ hệ thống tố tụng, trong đó qui tắc về chứng cứ có ảnh hưởng lớn nhất vì nó kiểm soát loại chứng cứ nào có thể được đưa ra trước những người có thẩm quyền; nói cách khác là qui tắc này quyết định chứng cứ có được chấp nhận hay không; (3) vai trò của công tố mờ nhạt trong hoạt động điều tra, trong khi đó vai trò của Luật sư bào chữa được tham gia rất sớm vào TTHS; (4) có chứa đựng yếu tố thú tội và mặc cả thú tội; (5) Luật sư bào chữa có vai trò rất lớn trong việc thuyết phục Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn đưa ra quyết định, tuy nhiên (6) hoạt động bào chữa của Luật sư cũng phải trong khuôn khổ pháp luật; (7) khuyến khích bị cáo nhận tội để có thể được miễn truy tố hoặcgiảm nhẹ hình phạt; và (8) trong mô hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc phân quyền qui định Toà án là bộ phận độc lập tách rời khỏi hành pháp và tư pháp.
Với những đặc điểm cơ bản nói trên, mô hình tố tụng tranh tụng có những ưu điểm như: Phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS; quyền của người bị buộc tội và của người bào chữa được mở rộng và triệt để được tôn trọng; vì thế nhiều người cho rằng mô hình tranh tụng có khả năng phòng chống oan sai có hiệu quả. Tùy theo cách tiếp cận mà tác giả xây dựng cho mình quan điểm, các quan điểm đều có hạt nhân hợp lý làm cơ sở nghiên cứu về tranh tụng. 8 Theo chúng tôi, tranh tụng trong TTHS là hoạt động đấu chứng, đấu lý trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự cụ thể được thực hiện chủ yếu bởi bên buộc tội và bên gỡ tội trong tất cả các giai đoạn tố tụng. Tranh tụng biểu hiện công khai, khách quan, toàn diện tại phiên tòa, khi đó Tòa án với tư cách là “trọng tài” điều khiển phiên tranh tụng, đồng thời lấy kết quả tranh tụng làm cơ sở ra phan quyết về vụ án đó.
Theo chúng tôi, bản chất của tranh tụng được nhìn nhận dưới gốc độ pháp lý và nhận thức. Góc độ pháp lý, bản chất của tranh tụng có nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, tranh tụng là hoạt động TTHS được thực hiện chủ yếu bởi bên buộc tội và bên gỡ tội nên hoạt động tranh tụng phải tuân theo các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS [8, tr. Thứ hai, chủ thể của tranh tụng gồm có Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác. Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳng với nhau về quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên có thể tranh tụng với người bào chữa, với bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật khách quan là đối tượng của tranh tụng. Thứ ba, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng hoặc chấm dứt tranh tụng, điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tranh tụng cho phù hợp với quy định của pháp luật và những vấn đề cần làm rõ trong khi giải quyết vụ án. Thứ tư, mục đích của hoạt động tranh tụng là nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Sự thật khách quan này bao gồm sự thật như nó diễn ra trên thực tế và được tiếp nhận, nhìn nhận, đánh giá dưới dóc độ pháp lý hình 9 sự và TTHS; Ngoài ra, mục đích tranh tụng còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể, bảo vệ quyền con người, góp phần hạn chế oan, sai và mở rộng dân chủ trong TTHS. Thứ năm, đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm, luận cứ và luận chứng của các bên trong việc giải quyết vụ án. Cách thức tranh tụng là các bên chủ thể tranh tụng sử dụng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chứng cứ mới cung cấp đã được kiểm tra tại phiên tòa, các quy định của pháp luật hiện hành để làm rõ các đối tượng tranh tụng. Dưới góc độ coi tranh tụng là hoạt động tư duy, nhận thức thì bản chất của tranh tụng có các nội dung sau: Thứ nhất, tranh tụng được tiến hành trên cơ sở tư duy logic.
Các bên tranh tụng có thể sử dụng các kỹ năng tranh tụng khác nhau để khẳng định, chứng minh cho quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm hoặc thừa nhận quan điểm của bên tranh tụng đối lập. Thứ hai, tranh tụng không chỉ là quyền, là trách nhiệm của các bên tham gia tranh tụng mà còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án. Nói cách khác, tranh tụng không chỉ là phương tiện để đạt được sự thật khách quan mà tranh tụng còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án. Chân lý về vụ án phải tìm thấy, có được thông qua tranh tụng.
Tất nhiên, thuộc tính này của tranh tụng là xét xử về nguyên tắc. Với các vụ án mà bị cáo nhận tội và có đủ chứng cứ đế khẳng định lời nhận tội của bị cáo là có cơ sở, tại phiên tòa không có những quan điểm xung đột thì không phát sinh tranh tụng hoặc nếu có thì chỉ ở mức độ nhất định [39, tr.