CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm tranh tụng phiên tòa hình sự 1. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa hình sự Đến nay, vẫn chưa có văn bản nào nêu rõ khái niệm hay định nghĩa thế nào là “tranh tụng”. Thuật ngữ “tranh tụng” chỉ mới được đề cập trong các văn bản của Đảng như Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp đề cập "nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên toà, đảm bảo việc tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác", trong các tài liệu hội thảo nên hiện còn nhiều cách hiểu, nhận thức về “tranh tụng”, ngay cả Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó quy định tại khoản 5 Điều 103: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cũng chỉ có quy định về tranh tụng trong xét xử được bảo đảm được xem là nguyên tắc nhưng chưa có quy định hay giải thích thế nào là “tranh tụng” [16, tr.
Theo Đại từ tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “Kiện tụng” dùng để “kiện cáo nhau”. Trong khoa học Pháp lý khái niệm tranh tụng hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: Tranh tụng là những hoạt động tố tụng được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tại thẩm. Theo nghĩa hẹp: Tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên trong vụ án với nhau về chứng cứ, yêu cầu, phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối của mình có căn cứ và hợp pháp.
7 n Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, nhà xuất bản tư pháp năm 2005 thì: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên gỡ tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại quan điểm và lợi ích của phía đối lập” [42]. Vậy tranh tụng trong tố tụng hình sự được bắt đầu từ giai đoạn nào của hoạt động tố tụng? Trong TTHS luôn tồn tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, bào chữa và xét xử. Ba chức năng này đan quyện qua lại với nhau và trong sự thống nhất của mình, chúng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án. Khi một nguời bị bắt, bị áp dựng biện pháp tạm giữ hoặc khi một người bị khởi tố với tư cách là bị can thì trong TTHS đồng thời xuất hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa.
Chính từ thời điểm này mới xuất hiện sự tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa [9, tr. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã khẳng định quá trình tranh tụng được diễn ra trong suốt quá trình tố tụng, bắt đầu từ giai đoạn khởi tố và xuyên suốt đến giai đoạn xét xử. Đây là quan điểm hợp lý, đã khái quát đầy đủ quá trình tranh tụng. So với chức năng xét xử, thì chức năng buộc tội và chức năng bào chữa xuất hiện sớm hơn, song song tồn tại và đối trọng với nhau trong suốt quá trình tố tụng.
Chức năng buộc tội và chức năng bào chữa luôn đối lập nhau và các chủ thể tham gia thực hiện hai chức năng này tạo thành hai bên đối tụng: Bên buộc tội và bên bào chữa. Còn chức năng xét xử do chủ thể duy nhất là Toà án thực hiện. Bên có thế mạnh là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được nhân danh quyền lực nhà nước và được sử dụng quyền lực nhà nước để tiến hành các hoạt động tố tụng đối với “bên yếu thế” là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và “bên yếu thế” buộc phải chấp hành các biện pháp tố tụng mà những người tiến hành tố tụng áp dụng [47, tr. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng quá trình tranh tụng chỉ thực sự được tiến hành khi có sự hiện diện đầy đủ các bên buộc tội, bên bào chữa dưới sự điều khiển của Tòa án… Chính vì vậy bản chất tranh tụng được thể hiện đầy đủ nhất 8 n từ khi bắt đầu từ giai đoạn xét xử, đặc biệt là xét xử tại phiên tòa.
Tại phiên tòa xét xử, với sự có mặt đầy đủ các chủ thể đó là bị cáo và người bào chữa; kiểm sát viên – đại diện cho VKS và người bị hại , quá trình tranh tụng được tiến hành thông qua hoạt động của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và Hội đồng xét xử với ba chức năng tương ứng xem xét việc buộc tội, bào chữa và xét xử Hội đồng xét xử chỉ có thể ra Bản án, quyết định sau khi đã căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tranh tụng - xét dưới góc độ là một “nguyên tắc cơ bản” của tố tụng hình sự: Theo quan niệm chung, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự hoặc đối với một loại hoạt động nhất định “ là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về tố tụng hình sự”; hoặc đó là “những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự và được các văn bản pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận. Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tranh tụng được ghi nhận là một nguyên tắc. Vấn đề là cụ thể hoá nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS như thế nào? Nguyên tắc này có những nội dung gì? Phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này?.là những vấn đề đang được nghiên cứu, xây dựng BLTTHS sửa đổi, bổ sung.
Như vậy, Tranh tụng được hiểu là các hoạt động được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu nhập và đưa ra chứng cứ, trình bày ý kiến để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình và phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập. Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên toà xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài [24]. Khái niệm bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự Tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định tại Điều 26 Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Để hiểu thế nào là bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa, trước hết cần tìm hiểu thế nào là bảo đảm.
Bảo đảm có thể được hiểu là: “Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [42]. Đặt trong ngữ cảnh để hiểu rõ nội hàm khái niệm bảo đảm, Từ điển luật học diễn giải: Nhà nước các trách nhiệm “bảo đảm cho các quyền công dân đã được ghi trong các đạo luật phải được thực thi, phải tạo điều kiện cho công dân hưởng các quyền đó” [42]. Trong tố tụng hình sự, việc xác định sự thật khách quan của vụ án được trải qua các giai đoạn khác nhau, ở mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sẽ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định; mỗi giai đoạn tố tụng đều có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. Theo đó, để tiến hành được việc tranh tụng và tranh tụng có hiệu quả, các bên cần phải có thời gian và điều kiện cần thiết để thu thập các chứng cứ, tài liệu và các tình tiết của vụ án trước khi bước vào cuộc tranh tụng tại phiên tòa.
Trong các vụ án hình sự, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao thực hiện chức năng chứng minh tội phạm, vì vậy họ thường chỉ thu thập những chứng cứ, bằng chứng mang tính chất buộc tội, việc thu thập chứng cứ gỡ tội thường ít chú trọng, trong khi đó bị cáo và người bào chữa thì hạn chế trong việc thu thập các chứng cứ gỡ tội. Thế cho nên, pháp luật tố tụng hình sự cần có những quy định bảo đảm các bên tham gia tố tụng có thể chủ động sử dụng các phương tiện được pháp luật cho phép để thu thập và xuất trình chứng cứ nhằm lập luận cho quan điểm của mình. Theo quy định của pháp luật, các bên tham gia vào hoạt động tố tụng có nghĩa vụ pháp lý như nhau, trong quá trình thu thập, đánh giá kiểm tra chứng cứ và được đánh giá trong trường hợp cụ 10 n thể. Việc quyết định bản án, xác định sự thật của vụ án phải được căn cứ trên cơ các kết quả, tranh tụng công khai tại phiên tòa giữa các bên.
Bảo đảm tranh tụng nhằm bảo vệ quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quá trình tố tụng được thực hiện đầy đủ các biện pháp, các phương tiện được pháp luật cho phép để thu thập và xuất trình chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình; tranh tụng mở ra cơ hội và tạo điều kiện ngang nhau cho các bên trình bày quan điểm, lý lẽ, cung cấp chứng cứ và phần tranh luận của mình tại phiên tòa. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự phải thực hiện nhiệm vụ, xác định sự thật vụ án, đảm bảo công bằng, để công lý được thực [20].