Chương 1: Lý luận chung về tiếp công dân trong điều kiện xây dựng nền hành chính phục vụ. Chương 2: Thực trạng tiếp công dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong điều kiện xây dựng nền hành chính phục vụ. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp công dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong điều kiện xây dựng nền hành chính phục vụ. 9 Luan van Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIẾP CÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NỀN HÀNH CHÍNH PHỤC VỤ 1.
Một số nội dung cơ bản về tiếp công dân 1. Khái niệm tiếp công dân "Công dân" là thuật ngữ thƣờng đƣợc sử dụng trong khoa học chính trị pháp lý. Trong Từ điển Oxford, "công dân" (citizen) chỉ "người có quyền lợi hợp pháp trong một quốc gia cụ thể" [50]. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa "Công dân là người dân của một nước có chủ quyền" [51].
Từ điển Hành chính giải thích "công dân là người trong quan hệ về quyền và nghĩa vụ đối với Nhà nước. Quốc tịch là căn cứ pháp lý để xác định công dân của một nước. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" [56, tr 67]. Khoản 1, Điều 17, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Công dân nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngƣời có quốc tịch Việt Nam".
Trong đó: "người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch" (Điều 13, Luật Quốc tịch 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014). Từ những cách lý giải trên cho thấy thuật ngữ "công dân" có nội hàm chỉ người dân cụ thể của một quốc gia, vùng lãnh thổ có chủ quyền xác định; có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ với quốc gia mà mình mang quốc tịch. Do gắn liền với mối quan hệ chính trị, pháp lý, quyền công dân không phải bất biến mà có thể thay đổi hoặc tạm thời bị tƣớc trong trƣờng hợp công dân đó vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bị tòa án nhân danh Nhà nƣớc ra văn bản tƣớc quyền công dân. 10 Luan van Tiếp công dân là sự tiếp xúc, gặp gỡ giữa một bên là đại diện nhân danh Nhà nƣớc và một bên là công dân để giải quyết các công việc liên quan đến ngƣời dân và xã hội.
Trong tiếng Việt, "tiếp" mang nghĩa nhận hoặc đón lấy điều gì đó [46, tr 830]; theo đó, "tiếp công dân" có thể đƣợc hiểu là quá trình tiếp xúc, trao đổi qua lại giữa các cơ quan nhà nƣớc với công dân để tiếp nhận và phản hồi những thông tin do công dân cung cấp. Từ điển Hành chính giải thích "tiếp công dân" là "gặp gỡ nhân dân để báo cáo công việc (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) hoặc theo yêu cầu của công dân để nghe kiến nghị của công dân hoặc giải quyết các vấn đề dân yêu cầu. Ở Việt Nam, các cơ quan hành chính, Hội đồng nhân dân phải có lịch tiếp dân và phòng tiếp dân" [12, tr 242]. Khoản 1, Điều 2, Luật Tiếp công dân năm 2013: "Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo,kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật" [31].
Tuy nhiên, theo cách nhìn của tác giả, tiếp công dân không chỉ giới hạn ở việc đón tiếp, lắng nghe để tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. mà còn bao gồm cả việc tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức, cá nhân và các công việc thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nƣớc phải thực hiện. Từ các cách giải nghĩa trên, tác giả có thể rút ra cách hiểu chung về tiếp công dân nhƣ sau: Theo nghĩa rộng, tiếp công dân "là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua các hoạt động giao tiếp với công dân để đối thoại, lắng nghe và tiếp nhận các thông tin về các vấn đề người dân quan tâm". Theo nghĩa hẹp: Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, 11 Luan van phản ánh của công dân và giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến ghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật".
Tiếp công dân trong quản lý nhà nƣớc là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân đƣợc nhà nƣớc trao quyền thông qua các hoạt động giao tiếp với công dân để đối thoại, lắng nghe và tiếp nhận các thông tin từ công dân liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước mà mình phụ trách và giải đáp cho người dân về các vấn đề mà người dân quan tâm". Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, xuất hiện thuật ngữ "công dân toàn cầu", đây là thuật ngữ mới, chỉ ngƣời dân của quốc gia này đặt trong mối quan hệ giao lƣu, hợp tác với quốc gia khác. Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ Wikipedia: "Công dân toàn cầu là những người sống và làm việc ở nhiều quốc gia khác nhau. Họ có thể có một hoặc nhiều quốc tịch" [51]; khi tham gia các quan hệ xã hội tại một quốc gia nhất định, cá nhân đó phải tuân thủ các quy định pháp luật của quốc gia đó.
Tuy nhiên, chƣa có văn bản pháp lý chung giữa các quốc gia về "công dân toàn cầu". Do vậy, trong luận văn này, tác giả không đề cập đến thuật ngữ này. Mặc dù vậy, với xu thế hội nhập nhƣ hiện nay, pháp luật Việt Nam đã thể hiện sự cởi mở, sẵn sàng tạo mọi điều kiện để ngƣời nƣớc ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam đƣợc hƣởng nhiều quyền lợi nhƣ đối với công dân, điển hình nhƣ việc quy định về quyền con ngƣời nói chung tại Chƣơng 2 của Hiến pháp và đặc biệt là Điều 30 của Hiến pháp 2013 khi nói về quyền khiếu nại, tố cáo không chỉ dừng lại đối với công dân Việt Nam mà quy định “Mọi ngƣời có quyền khiếu nại, tố cáo…”. Điều đó có nghĩa việc tiếp công dân còn có thể bao gồm cả việc tiếp nhận và giải quyết các thông tin đối với cá nhân, tổ chức nƣớc ngoài tại Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý của bộ máy nhà nƣớc ta.
Một số khái niệm liên quan đến tiếp công dân 1. Khiếu nại Trong khoa học thuật ngữ "khiếu nại" đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. 12 Luan van Theo "Đại từ điển tiếng Việt" thì "khiếu nại" đƣợc hiểu là: "thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y" [10] Theo cuốn Thuật ngữ pháp lý phổ thông: "Khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác" [11, tr. Theo Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: "Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nƣớc, của ngƣời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nƣớc hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình" và "giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại" [29].
Nhƣ vậy, khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc là đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc ngƣời có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đặc điểm cơ bản của khiếu nại là trong đó bao giờ cũng hàm chứa những dữ liệu chứng tỏ có sự vi phạm hoặc cho là vi phạm quyền và lợi ích đƣợc pháp luật bảo vệ, cho nên việc khiếu nại không phải là hoạt động mang tính phòng ngừa mà là việc bảo vệ một cách tích cực quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức. Mục đích của ngƣời khiếu nại nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi họ có căn cứ cho rằng những quyền và lợi ích hợp pháp đó bị các cơ quan nhà nƣớc hoặc cán bộ, công chức xâm hại. Trong khiếu nại, chủ thể thực hiện khiếu nại là công dân hoặc tổ chức, đối tƣợng bị khiếu nại là ngƣời có chức vụ, quyền hạn; nội dung khiếu nại là 13 Luan van quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khiếu nại bị ngƣời có chức vụ, quyền hạn vi phạm.
Phạm vi của quyền khiếu nại rất rộng, bao gồm mọi công dân, cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức bị kỷ luật. Trong giải quyết khiếu nại ở nƣớc ta hiện nay, khiếu nại có tính pháp lý chủ yếu xảy ra trên hai lĩnh vực quản lý hành chính nhà nƣớc và hoạt động tƣ pháp; do đó, khiếu nại chủ yếu đƣợc giải quyết theo thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nƣớc và thủ tục tƣ pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án Hành chính và Tòa án nhân dân (khởi kiện ra Tòa án). Tố cáo Theo từ điển tiếng Việt thông dụng thì tố cáo là "vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận" [59, tr. Dƣới góc độ khoa học luật học thì "Tố cáo là việc công dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích của công dân" [58, tr.