phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ và việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng dội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ. z 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NỮ 1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ 1.
Những khái niệm cơ bản về bình đẳng giới và thực hiện pháp luật Bình đẳng giới 1. Khái niệm, đặc điểm của giới tính và giới Giới và giới tính là các khái niệm đƣợc dùng phổ biến ở nhiều Quốc gia trên thế giới và đƣợc sử dụng chính là để phân biệt sự khác nhau nào giữa nam và nữ là do “thiên chức” và sự khác nhau nào không phải là do “thiên chức”. Những khác biệt giữa nam và nữ do “thiên chức” hay “thiên bẩm”, “trời phú”, sinh ra đã có là những khác biệt hầu nhƣ không thay đổi đƣợc trong suốt cuộc đời con ngƣời. Những khác biệt giữa nam và nữ do ngƣời ta học đƣợc từ gia đình, nhà trƣờng và giao tiếp xã hội chứ không phải sinh ra đã có mới là cái tạo nên sự bất bình đẳng nam-nữ mà ta cần phải đấu tranh và xóa bỏ [2, Tr12].
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) “Giới tính” chỉ các đặc điểm sinh học và sinh lí học giúp phân biệt đƣợc đàn ông và phụ nữ. Ví dụ nhƣ Hệ xƣơng của ngƣời đàn ông thƣờng phát triển hơn phụ nữ. “Giới” chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành nên đƣợc coi là chuẩn mực của nam giới và nữ giới. Giới chỉ các quan niệm, mong đợi và các chuẩn mực đƣợc công nhận rộng rãi liên quan đến phụ nữ và đàn ông.
Chúng bao gồm cả những quan niệm về những đặc điểm và khả năng “điển hình” cho nữ giới và nam giới cũng nhƣ các mong đợi đƣợc chấp nhận rộng rãi về việc phụ nữ và đàn ông nên ứng xử nhƣ thế nào trong nhiều tình huống khác nhau. Những quan niệm và mong đợi này đƣợc truyền tải hằng ngày trong gia đình, giữa bạn bè, theo ý kiến các nhà lãnh đạo, theo các thể chế tôn giáo và văn hóa, trƣờng học, nơi làm việc, quảng cáo và các phƣơng tiện truyền thông. Chúng phản ánh z 7 và tác động lên các vai trò khác nhau mà phụ nữ và nam giới có thể thực hiện trong xã hội, cũng nhƣ vị trí, sức mạnh kinh tế. Ở Việt Nam dƣới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giới tính lần đầu tiên đƣợc quy định cụ thể tại khoản 2, điều 5, Luật Bình đẳng giới “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.
Nhƣ vậy, giới tính chỉ rõ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ. Những đặc điểm mang tính bẩm sinh, hình thành từ trong bào thai. Thông thƣờng mỗi ngƣời sinh ra đã mang các đặc điểm giới tính của nam hoặc nữ, mà không phụ thuộc vào mong muốn của cá nhân đó hay của cha, mẹ. Các đặc điểm của mọi ngƣời cùng giới tính về cơ bản là giống nhau, không hoặc ít thay đổi theo lịch sử hay điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, thể chế.
Với tiến bộ khoa học, ngày nay ngƣời ta có thể phẫu thuật để chuyển đổi giới tính. Tuy vậy, các phẫu thuật chỉ tạo ra những thay đổi về hình thể mà không thay đổi đƣợc các chức năng sinh lý nhƣ: Nữ giới có trứng, có khả năng mang thai, sinh con, nuôi con bằng sữa của mình; nam giới có tinh trùng, có khả năng làm cho phụ nữ mang thai,…Trong khoản 1, điều 5, Luật Bình đẳng giới” “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”, có thể thấy bên cạnh cách giải thích có tính pháp lý nói trên, trong các tài liệu huấn luyện, truyền thông về giới ở Việt Nam trong thời gian qua còn đƣa ra những cách giải thích khác nhau về thuật ngữ này. Ví dụ: “Giới chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và cách ứng xử [9; tr7]. “Giới là một thuật ngữ xã hội bắt nguồn từ môn nhân chủng học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn và lợi ích” [30, Tr6].
Điểm chung trong các cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “giới” là “giới chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội. Các đặc điểm giới của nam và nữ hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân với môi trƣờng văn hóa, xã hội. Giới là sự “quy định” của xã hội về vai trò, trách nhiệm, quyền lợi và giá trị của nam và nữ. Nhƣ vậy, từ “giới” trong Luật bình đẳng giới có nghĩa hoàn toàn khác với từ “giới” trong từ điển tiếng việt, từ “giới” là từ chỉ “lớp ngƣời trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, z 8 địa vị xã hội” nhƣ giới tiểu thƣơng, giới quân sự, giới phụ nữ, giới thạo tin,…[12].
Sự khác nhau giữa giới tính và giới “Giới tính” và “Giới” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, mặc dù hai khái niệm này đều xoay quanh vấn đề về con ngƣời, mà ở đây cụ thể là giữa ngƣời nam và ngƣời phụ nữ, song mỗi khái niệm đều mang những đặc điểm riêng biệt, chỉ những vấn đề khác nhau đối với một con ngƣời khi đƣợc sinh ra, lớn lên và tồn tại trong một xã hội. Khái niệm “giới tính” chỉ rõ là những khác biệt về mặt sinh học, mang tính phổ biến và không thể thay đổi đƣợc, có nghĩa là khi sinh ra, bẩm sinh đã có đối với mỗi giới nam và nữ và những đặc điểm này không thể thay đổi đƣợc theo thời gian, mặc dù ngày nay y học tiến bộ có can thiệp, tác động để thay đổi song sự thay đổi đó chỉ mang tính chất bề ngoài, ví dụ: nam giới có thể có tóc dài, có ngực,.nhƣng không thể thay đổi đƣợc bản chất bên trong, hay nói cách khác đó là “thiên chức” của mỗi giới, ví dụ: nam giới có thể có tóc dài, có ngực nhƣng không thể sinh con. Khái niệm “giới” chỉ rõ những khác biệt về mặt xã hội đối với từng ngƣời, từng giới nam hay nữ, không phải là bẩm sinh, sinh ra đã có mà những khác biệt này đƣợc hình thành do giáo dục, do môi trƣờng sống và thay đổi đƣợc theo thời gian, thậm chí còn rất khác nhau giữa xã hội này với xã hội khác hay giữa những ngƣời sống trong cùng một xã hội. Ví dụ: giới văn nghệ sỹ, giới báo chí.
Các đặc điểm phân biệt giới tính và giới Giới tính Giới Đặc điểm về sinh học khác nhau giữa Cách ứng xử, vai trò, hành vi mà xã hội nam và nữ (sinh ra đã có) mong đợi ở nam và nữ (không phải sinh ra Ví dụ: Vóc dáng, giọng nói, cơ quan đã có) sinh dục; Nam giới có tinh trùng và Ví dụ: Chồng là trụ cột trong gia đình, phụ có thể làm cho phụ nữ thụ thai. Nữ nữ luôn phụ thuộc vào nam giới; chồng chỉ giới có trứng, có khả năng mang thai, làm những việc lớn, vợ phải giỏi nội trợ sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Ngƣời ta khi sinh ra đã thuộc về một Ngƣời ta học và nhập tâm về các vai trò z 9 giới tính nhất định và không thay dổi giới trong quá trình trƣởng thành và giao theo thời gian (nếu không có sự can tiếp xã hội, điều này có thể thay đổi theo thiệp của y học) thời gian. Ví dụ: Một ngƣời khi sinh ra đã biết Ví dụ: Ở rất nhiều nƣớc phụ nữ đảm nhiệm là trai hay là gái căn cứ vào các đặc vai trò chăm sóc con cái, nhƣng càng ngày điểm sinh học của cơ thể nam giới càng tham gia nhiều hơn vào công việc này.
Quan niệm về giới tính của một Quan niệm về các vai trò giới khác nhau ngƣời ở nơi nào cũng vậy theo phong tục, tập quán, theo vùng và thời Ví dụ: Một ngƣời sinh ra đã là nam gian. Thời phong kiến: nam giới có thể có nhiều vợ, ngày nay nam giới chỉ có thể có một vợ (thay đổi theo thời gian) (khó) không thay đổi đƣợc Có thể thay đổi theo thời gian Trừ khi phẫu thuật, dùng hóc - môn Có thể thay đổi khi quan niệm xã hội và có thể thay đổi hình thể đến một mức các điều kiện xã hội thay đổi độ nào đó (Theo tài liệu tham khảo “Bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình - Hà Nội, 2007 Ban gia đình xã hội Hội LHPN Việt Nam, trang 13) Từ biểu phân biệt trên cho chúng ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa khái niệm “giới tính” và khái niệm “giới”. Sự phân biệt hai khái niệm “giới tính” và “giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: Một loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định - đặc điểm giới tính, loại đặc điểm thứ hai do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên - đặc điểm giới. Nhƣ vậy, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi z 10 quan niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới cũng nhƣ thay đổi những định kiến về giới, thay đổi về cách phân công lao động trong xã hội.
Khái niệm Bình đẳng giới và lợi ích của thực hiện Bình đẳng giới Bình đẳng giới theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Bình đẳng giới hoặc bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, có nghĩa là bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ, cơ hội, sự đối xử và sự đánh giá về phụ nữ và nam giới - Trong công việc và tại doanh nghiệp - Trong mối quan hệ giữa công việc và cuốc sống.