Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, chủ thể, ý nghĩa của thi hành án hình sự 1. Khái niệm về thi hành án hình sự Trước hết, để làm rõ khái niệm thi hành án hình sự, cần tìm hiểu thi hành án là gì? Thi hành án được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được tiến hành theo thủ tục trình tự pháp luật quy định, nhằm thực hiện các bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án. Thi hành án, xuất phát từ thuật ngữ gốc là “Thi hành”.
Từ điển Hán - Việt của tác giả Đào Duy Anh, thì “thi hành” là: “Đem cái việc đã trù định sẵn mà làm ra cho có hiệu quả"[1, tr. Như vậy thi hành án có thể được hiểu là đem bản án của Tòa án ra thi hành trên thực tế cho có hiệu quả; còn thi hành án hình sự là việc đưa các bản án, quyết định của Tòa án về hình sự đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế. Điều này có ý nghĩa chỉ các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực và đang có hiệu lực mới được đem thi hành. Đó là các bản án, quyết định hình sự đã được qui định tại Điều 255 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003 nhưng chưa quá thời hiệu thi hành bản án theo qui định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 1999 trước đây; nay được quy định tại Điều 255 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về việc đưa vụ án ra xét xử theo Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thấm; những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Điều 3 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 cũng có quy định tương tự là: “Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành bao gồm bản án hoặc phần bản án của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; bản án của Toà án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thấm của Toà án” [33]. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không có nghĩa là được thi hành ngay mà còn 7 phải thông qua một thủ tục hành chính, đó là việc Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án hoặc được ủy quyền phải ra một văn bản quyết định thi hành án thì mới được thi hành. Qui định này cho thấy, việc thi hành án hình sự không chỉ phụ thuộc vào pháp luật tố tụng hình sự mà còn phụ thuộc vào các quy định hành chính, thông qua thủ tục hành chính.
Thi hành bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là một hoạt động phức tạp, đa dạng liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ việc thi hành các hình phạt chính như cảnh cảo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chung thân, tử hình đến các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính); các biện pháp tư pháp như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi, bắt buộc chữa bệnh; các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng [40]. Xung quanh bản chất pháp lý của thi hành án hình sự đã có một số quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau của các học giả trong và ngoài nước như: “Thi hành án hình sự là một giai đoạn đặc biệt của tố tụng hình sự", bởi vì nó được qui định trong pháp luật tố tụng hình sự hoặc chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự và của các ngành luật khác. Ngoài ra, còn có một quan điển nữa mà đại diện là GS.TS Đào Trí Úc và GS.TS Đỗ Ngọc Quang cũng như của nhiều nhà khoa học luật cho rằng “thi hành án hình sự là một lĩnh vực hành chính - tư pháp độc lập”, ngành luật thi hành án hình sự điều chỉnh [18]. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này của GS.TS Đào Trí Úc và GS.TS Đỗ Ngọc Quang, bởi lẽ thi hành án hình sự về bản chất và nội dung khác với hoạt động tố tụng hình sự.
Hoạt động tố tụng hình sự là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự, xác định chân lý để áp dụng việc định đoạt hình phạt hay không áp dụng hình phạt trong các bản án hay quyết định của Tòa án. Thực chất hoạt động tố tụng hình sự là chứng minh chân lý để áp dụng công lý và phải tuân theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự. Cũng cần phải bổ sung thêm rằng: Ngành luật thi hành án hình sự thực chất là pháp luật hành 8 chính - tư pháp. Thực chất của hoạt động thi hành án hình sự là việc tổ chức thi hành các hình phạt, biện pháp tư pháp được qui định trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trên thực tế.
Đó chính là việc thực thi công lý trên cơ sở chân lý đã được hoạt động tố tụng hình sự chứng minh. Như vậy, nguyên tắc trình tự, thủ tục thi hành án hình sự khác với nguyên tắc trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Hoạt động thi hành án hình sự mặc dù có quan hệ chặt chẽ với pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự nhưng thuộc phạm trù chấp hành do pháp luật hành chính điều chỉnh, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Nội dung thi hành án hình sự rất rộng, bao gồm: thủ tục, chế độ, tổ chức thi hành án, áp dụng các biện pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội và thực hiện chế độ chính sách đối với người bị kết án [40].
Các quan hệ xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình thi hành và chấp hành hình phạt như: Việc đưa bản án ra thi hành, chỉ định cơ quan tổ chức thi hành, tổ chức lực lượng, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc thi hành án; Luật Thi hành án hình sự năm 2010 ngoài những quy định trên còn qui định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án; nghĩa vụ của cơ quan nhà nước hữu quan. do pháp luật hành chính - tư pháp, hay nói cách khác, do pháp luật thi hành án hình sự điều chỉnh. Từ những vấn đề nêu trên có thể hiểu: Thi hành án hình sự là hoạt động thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật của các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định, thể hiện qua việc quản lý, tổ chức các biện pháp tác động đối với người bị kết án hình sự buộc họ phải thi hành đầy đủ, nghiêm chỉnh những nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật đã quy định cụ thể đối với hình phạt mà họ bị Tòa án tuyên, nhằm mục đích quản lý, giáo dục, cải tạo họ thành người lương thiện có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới [40]. Đặc điểm về thi hành án hình sự Thời điểm hoạt động thi hành án, được diễn ra ngay sau khi bản án quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động thi hành án. Tuy nhiên, thi hành án 9 lại không phải là giai đoạn tố tụng (cuối cùng); bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động thi hành án; thi hành án đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng. Ví dụ, để có thể tiến hành các hoạt động thi hành án thì phải có quyết định thi hành án và phải dựa trên những quy định cụ thể về thi hành án. Thi hành án là dạng hoạt động có tính chấp hành, vì thi hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, ở đây tính chất chấp hành trong thi hành án có những nét riêng thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, nó chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) hay đối tượng phải thi hành án tiến hành; thứ hai, cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án bao gồm các quy định của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định của toà án (văn bản áp dụng pháp luật) đã có hiệu lực pháp luật; thứ ba, mục đích cuối cùng của hoạt động thi hành án là bảo đảm cho các nội dung của các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi chứ không phải là ra các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành, nét đặc trưng của cơ quan hành chính [39]. Thi hành án là dạng hoạt động có tính quản lí vì thi hành án luôn đòi hỏi các yếu tố kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lí. nhằm tác động tới các đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của toà án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện (đối với những người bị kết án phạt tù). Ở đây, tính chất quản lí cũng có đặc trưng riêng về chủ thể quản lí, đối tượng và khách thể quản lí; phạm vi và phương pháp quản lý.
Thi hành án kết hợp giữa phương pháp thuyết phục, giáo dục và cưỡng chế, mệnh lệnh bắt buộc.