CHƯƠNG 1 VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm về vốn kinh doanh Phạm trù vốn kinh doanh luôn gắn liền với khái niệm doanh nghiệp. Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
[9] Mỗi doanh nghiệp đều có đặc thù riêng, song tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đều cần phải có sự kết hợp của 3 yếu tố đầu vào cơ bản sau: Sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Để có được 3 yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một lượng lớn vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Lượng vốn tiền tệ đó được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp Từ những phân tích trên có thể hiểu vốn kinh doanh như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. [13] Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hoá từ hình thái này sang hình thái khác phù hợp với các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trước hết doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định đầu tư mua sắm các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Lúc này,vốn kinh doanh chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật chất dưới dạng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm, hàng hoá. Khi doanh nghiệp đem các sản phẩm, hàng hoá đi tiêu thụ để thu tiền về thì vốn kinh doanh lại chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái ban đầu là tiền tệ và hoàn thành 1 vòng chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn vốn.
9 Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế -kỹ thuật của từng ngành nghề kinh doanh. Chẳng hạn, đối với những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ thì tốc độ chu chuyển vốn kinh doanh nhanh, còn những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất thì lại có tốc độ chu chuyển vốn chậm.
[1] * Đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trƣng của vốn kinh doanh trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp quản lý sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả hơn. Sau đây là những đặc trưng chủ yếu của VKD: [10] + Vốn phải được đại diện cho một lượng tài sản nhất định: Nói cách khác, vốn là biểu hiện về giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp. Do đó, không thể có vốn mà không có tài sản và ngược lại. + Vốn phải được vận động để sinh lời: Vốn biểu hiện là tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn.
Để trở thành vốn thì tiền phải được vận động với mục đích sinh lời, nghĩa là tiền chỉ trở thành vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh doanh. Trong quá trình vận động, tiền có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng kết thúc vòng tuần hoàn nó phải trở về hình thái ban đầu là tiền với giá trị lớn hơn, tức là kinh doanh có lãi. Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không được để vốn bị ứ đọng. + Vốn có giá trị về mặt thời gian: Điều này có nghĩa là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau.
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học công nghệ không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau lại khác nhau. + Vốn phải được tích tụ,tập trung đến một lượng nhất định mới có thể đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời: Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp phải lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu đầu tư và 10 trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư thu lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. + Vốn là loại hàng hoá đặc biệt và cũng như mọi hàng hoá khác nó có giá trị và giá trị sử dụng: Giống như các loại hàng hoá khác, “hàng hoá vốn” cũng được mua đi bán lại trên thị trường. Tuy nhiên, người ta chỉ mua được quyền sử dụng vốn mà không mua được quyền sở hữu.
Khi sử dụng “hàng hoá vốn” sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn. “Hàng hoá vốn” được mua bán trên thị trường dưới hình thức mua bán quyền sử dụng vốn. Giá mua bán chính là lãi suất mà người vay vốn phải trả cho người cho vay vốn để có quyền sử dụng lượng vốn đó. Đặc trưng này cần được lưu ý vì trong nền kinh tế thị trường, chính đặc trưng này đã làm xuất hiện khái niệm về chi phí vốn.
+ Tại một thời điểm, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà của cả tài sản vô hình. Đặc trưng mà giúp doanh nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó có thể đưa ra các biện pháp phát huy tổng hợp của vốn kinh doanh. Phân loại vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều loại, để phục vụ cho yêu cầu quản lý, sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả người ta thường phân loại vốn theo các tiêu thức nhất định. * Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn Vốn kinh doanh được chia thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định VCĐ là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Việc tăng thêm VCĐ trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế. Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp” hay nói cách khác “Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần 11 trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng luân chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị”.
Vốn cố định có một số đặc điểm sau: + Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh. + Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển. + Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị, tức là thu hồi được tiền khấu hao tài sản cố định. Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh.
Việc tăng thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nghề nói chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế. Do vậy, việc quản lý vốn cố định được coi là một vấn đề quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. - Vốn lưu động Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài sức lao động, tư liệu lao động, doanh nghiệp cần có đối tượng lao động như nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra.
Những đối tượng lao động này nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư nhất định ban đầu để hình thành nên các tài sản lưu động nói trên nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra. Như vậy, “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần sử dụng và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh”.
[2] Vốn lưu động có các đặc điểm sau: 12 + Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện. + Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. + Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tuỳ theo yêu cầu của việc quản lý, vốn lưu động có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau: + Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn, chia thành: vốn hàng tồn kho, vốn bằng tiền và các khoản phải thu.
+ Căn cứ vào vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh, chia thành: vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất, vốn lưu động trong khâu lưu thông. Việc phân loại này giúp cho doanh nghiệp có sự phân tích, đánh giá tổng quát về cơ cấu vốn đầu tư, qua đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn trong doanh nghiệp cho phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp, định hướng phát triển cho doanh nghiệp.