chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày những cơ sở lý thuyết chung về các đối tượng nghiên cứu của đề tài, luận điểm chính trong các lý thuyết nền và sự ứng dụng các lý thuyết này trong các nghiên cứu trước điển hình có liên quan đến tác động của VTT đến HQTC của doanh nghiệp. Từ đó xây dựng định hướng nghiên cứu cho luận án này. Cơ sở lý thuyết liên quan đến tác động của vốn trí tuệ đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 2.
Cơ sở lý luận chung về vốn trí tuệ và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 2. Khái niệm và phân loại vốn trí tuệ a. Khái niệm Có nhiều định nghĩa khác nhau về VTT đã được đề cập trong các nghiên cứu. Trước hết, xuất phát từ định nghĩa quan trọng bao quát nhất về VTT của Stewart (1997) rằng VTT là tổng của tất cả mọi thứ, mọi người giúp mang lại lợi thế cạnh tranh trong một DN ngoài tài sản hữu hình.
Các khái niệm về sau này hướng tới chi tiết hóa về các hình thức và biểu hiện của VTT. Chẳng hạn như VTT là tài liệu, kiến thức, kinh nghiệm, sở hữu trí tuệ và thông tin có thể được đưa vào sử dụng để tạo ra sự giàu có (Bontis & Fitz‐enz, 2002). VTT là hiện thân dưới dạng tài sản của các nguồn lực vô hình trong DN, chẳng hạn như kiến thức, kỹ năng chuyên môn nhân viên, cơ sở dữ liệu, tài sản trí tuệ, bí quyết, công nghệ, quan hệ khách hàng, v., có thể mang lại lợi ích và xác định tiềm năng phát triển của DN trong tương lai khi được quản lý và sử dụng một cách khôn ngoan (Lee & Wong, 2019). Phần lớn các định nghĩa có ảnh hưởng nhất của VTT cho rằng VTT đại diện cho kiến thức của DN có khả năng được chuyển đổi thành lợi nhuận hữu hình (Dumay, 2009), vì định nghĩa này giải thích bản chất thực sự của VTT, xem hiệu ứng của VTT là một tiềm năng đối với hiệu quả DN tùy thuộc vào việc người quản lý có nhận ra tiềm năng này hay không (Sullivan, 2000; Dženopoljac và cộng sự, 2016).
Hơn nữa, nó đảm bảo lợi nhuận khi không có tài sản hữu hình (Lev, 2004). Petty và Guthrie (2000) xem VTT là một trong những cách thức được sử dụng trong đánh giá và đo lường tài sản vô hình. Điểm trùng lặp rõ nhất giữa các định nghĩa VTT của các nhà nghiên cứu là về bản chất vô hình của VTT, đó là dựa trên kiến thức ngầm và khả năng tạo ra giá trị của nó (Vishnu và Gupta, 2014). Xét về phương diện thị trường, VTT đại diện cho giá trị tiềm ẩn của DN, giải thích cho sự gia tăng giá trị thị trường của cổ phiếu so với chi phí thay thế của các nguồn lực hữu hình của DN (Vishnu & Gupta, 2014; Sardo & Serrasqueiro, 2017), hoặc sự khác biệt giữa giá trị thị trường và giá trị kế toán của DN (Brennan & Connell, 2000; Edvinsson & Malone, 1997; Maditinos và cộng sản, 2011).
9 Các khái niệm cũng chỉ ra rằng VTT không chỉ là một tài sản vô hình tĩnh (Bontis, 2001). VTT đóng một vai trò quan trọng nhưng việc đầu tư vào VTT và việc thu lại lợi ích có thể xảy ra tại các thời điểm khác nhau trong hiện tại và tương lai, ví dụ cách thức tạo giá trị của hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều này thúc đẩy tìm kiếm mối quan hệ giữa hiệu quả DN và VTT nên được thực hiện với nhiều bối cảnh thời gian khác nhau. Từ các nhận định trên, trong nghiên cứu này VTT được định nghĩa là sự kết hợp sử dụng nhiều nguồn lực trí tuệ bao gồm con người, cấu trúc tổ chức và vốn quan hệ để thúc đẩy tăng cường HQTC và gia tăng lợi thế cạnh tranh của DN.
Phần tiếp theo thảo luận về phân loại các thành phần chính của VTT. Phân loại các thành phần vốn trí tuệ Từ những nghiên cứu đầu tiên về VTT, các học giả đo lường VTT liên quan đến thành phần vốn nhân lực và vốn cấu trúc (Pulic, 1998; Vishnu và Gupta, 2014; Dumay, 2016; Dzenopoljac và cộng sự, 2017; Smriti và Das, 2018; Kweh và cộng sự, 2019; Chowdhury và cộng sự, 2019). Sau đó một số tác giả đã phân loại VTT bằng cách bổ sung thêm thành phần vốn quan hệ hoặc có sự thay đổi trong cách nhìn nhận thành phần của vốn cấu trúc trong thực tiễn nghiên cứu. Điển hình phải kể đến Khung ba bên của Sveiby (1997a) xem xét VTT gồm vốn bên ngoài, vốn bên trong và vốn nhân lực theo cách gọi tương tự như ba hạng mục vốn nhân lực, vốn cấu trúc và vốn quan hệ.
Khung ba bên của Sveiby đã được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu VTT (Abeysekera & Guthrie, 2005; Guthrie và cộng sự, 2004; Petty & Guthrie, 2000; Steenkamp & Northcott, 2007; Wagiciengo & Belal, 2012; Whiting & Woodcock, 2011). Họ cho rằng VTT bao gồm toàn bộ kiến thức, khả năng và kinh nghiệm của nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu tổ chức bên trong và bên ngoài của nó. Khuôn khổ của Sveiby được coi là rất hữu ích để thực hiện nghiên cứu lĩnh vực CBTT VTT trong bối cảnh quốc gia (Li và cộng sự, 2008). Vốn nhân lực liên quan đến yếu tố con người bao gồm kiến thức, năng lực và thái độ của nhân viên góp phần thu hút khách hàng và tăng năng suất và lợi nhuận của DN, sau đó có thể chuyển thành giá trị thị trường (Chen, Zhu, & Xie, 2004).
Hoặc vốn nhân lực là sự sáng tạo, bí quyết, năng lực đổi mới, khả năng làm việc nhóm, sự hài lòng, động lực, sự linh hoạt của nhân viên, lòng trung thành, học tập, đào tạo và giáo dục (Bontis, 2001; Ferraro & Veltri, 2011; Martín và cộng sự , 2011). Vốn nhân lực có được thông qua kinh nghiệm và đào tạo, là “mức độ chuyên nghiệp” và năng suất của nhân viên để cải thiện hiệu quả, hoàn thành các mục tiêu của DN (Ahangar, 2011; Stewart, 1997; Tsui và cộng sự, 2014; Nimtrakoon, 2015; Allameh, 2018; Xu & Wang, 2018). OECD công nhận rằng vốn con người được coi là động lực cốt lõi của sự giàu có, thịnh vượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế theo quan điểm kinh tế 10 vĩ mô (Martín và cộng sự, 2011). Nó được coi là thành phần VTT có giá trị nhất, là tài sản vô hình chính (Sveiby, 1997).
Vốn nhân lực chủ yếu phụ thuộc vào các thuộc tính cá nhân nên nó là loại kiến thức tiềm ẩn về bản chất, không thể thuộc sở hữu của tổ chức. Tuy nhiên, vốn nhân lực có thể được chuyển đổi thành vốn cấu trúc bằng cách mã hóa kiến thức ngầm trong con người thành kiến thức rõ ràng và lưu trữ dưới dạng thông tin và các quy trình, thủ tục (Hall-Ellis, 2015). Vốn cấu trúc bao gồm cơ sở dữ liệu, chiến lược, quy trình kinh doanh, hệ thống kiểm soát, hệ thống thông tin, cơ cấu tổ chức, và văn hóa DN (Hsu & Sabherwal, 2012; Zhang và cộng sự, 2021; Roos & Roos, 1997) để hỗ trợ nhân viên đạt được mục tiêu kinh doanh (Roos, Roos, & Dragonetti, 2008; Rahimi và cộng sự, 2017) và giúp đảm bảo hiệu quả kinh doanh và năng suất nhân viên (Bontis và cộng sự, 2007; Bollen và cộng sự, 2005). Vốn cấu trúc do người lao động tạo ra hoặc có thể được mua ở nơi khác.
Một số vốn cấu trúc có thể được bảo hộ hợp pháp và trở thành đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và do đó thuộc sở hữu của DN như là thương hiệu, bằng sáng chế, bản quyền, tên thương mại, quyền hoạt động, bí mật kinh doanh, công nghệ, đổi mới, tài sản trí tuệ được tạo ra bởi bộ phận nghiên cứu và phát triển (Chen, Cheng, & Hwang, 2005; Nimtrakoon, 2015; Allameh & Khalilakbar, 2018; Xu & Wang, 2018). Vì vậy, Choong (2008) và Nadeem, Gan, & Nguyen (2018) cũng khẳng định rằng vốn cấu trúc là chính là động lực của sự đổi mới. Vốn cấu trúc được chuyển đổi, tái tạo và chia sẻ trong một khoảng thời gian dài, và cũng có thể được sử dụng bởi các nhân viên khác nhau bất kể thời gian với mục đích tạo ra giá trị. Vốn cấu trúc cũng bao gồm khía cạnh văn hóa, nơi mà sự kết hợp của các giá trị, chuẩn mực và hành vi được thực hành và chia sẻ bởi đa số nhân viên.
Vốn quan hệ liên quan đến việc quản lý và điều tiết các mối quan hệ bên ngoài của DN, bao gồm mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh, đối tác, cổ đông, khách hàng, chính phủ, các kênh phân phối và nhà cung cấp, các bên liên quan (Sveiby, 1997a); (Meles và cộng sự, 2016; Tsui và cộng sự, 2014; Sharabati, Jawad, & Bontis, 2010). Các học giả đồng thuận rằng vốn quan hệ tạo ra được tiềm lực giá trị gia tăng trong hiện tại cũng như tương lai, điển hình như (Chen và cộng sự, 2005, Nimtrakoon, 2015, Allameh & Khalilakbar, 2018, Xu & Wang, 2018). Theo Sveiby (2007), vốn quan hệ khó quản lý hơn so với vốn con người và vốn cấu trúc vì nó hướng ra bên ngoài nhiều hơn. Trong đó, mối quan hệ với khách hàng có thể được thừa nhận là mối quan hệ quan trọng nhất (Bontis, 2001; Bozbura, 2004; Kim và cộng sự, 2012).
Nhất quán với lập luận này, trong một số nghiên cứu, bao gồm cả nghiên cứu này, nên sử dụng vốn quan hệ như một trong ba thành phần của VTT. Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác như nghiên cứu của Edvinsson & Malone(1997) và Thien (2019) đã phân loại VTT là 11 tổng vốn con người và vốn cấu trúc, trong đó vốn quan hệ được kết hợp như một thành phần cụ thể thuộc về vốn cấu trúc. Nghiên cứu này kế thừa các nghiên cứu trước xem xét VTT bao gồm ba thành phần là vốn nhân lực, vốn cấu trúc và vốn quan hệ. Từ đó thiết lập mô hình nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của CBTT VTT và hiệu quả VTT đến HQTC của DN.
Công bố thông tin vốn trí tuệ a. Khái niệm công bố thông tin vốn trí tuệ CBTT VTT là một hình thức giao tiếp mới nhằm mục đích kiểm soát các chiến lược, đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan và thuyết phục các bên liên quan về lợi ích của chính sách DN về các yếu tố liên quan đến VTT (Abeysekara, 2006, Hatane và cộng sự, 2019). Theo Roos & Roos (1997), CBTT VTT được bắt nguồn từ việc xây dựng chiến lược DN, là công cụ đo lường giúp DN cải thiện hình ảnh của mình thông qua CBTT phi tài chính, tập trung vào tầm quan trọng của VTT và mô tả liên quan đến tài sản vô hình.