CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE HIEU QUA SU DUNG VON KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1. Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh của doanh nghiệp Theo quan điểm của C.Mác, “vốn là giá trị đem lại giá trị thăng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất ”. Tuy định nghĩa của C.Mác mang một tầm khái quát lớn nhưng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên ông đã quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thăng dư cho nền kinh tế.
A, Samuelson, nhà kinh tế học thuộc trường phái “tân cô điển” đã thừa kế quan niệm về yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào. của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là đất đai, lao động và vốn. Theo ông, “vốn là các hàng hoá được sản xuất ra đề phục vụ cho một quá tình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một DN, đó là máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ. ” David Begg - Giáo sư kinh tế học trường Tổng hợp London, Anh đã đưa ra hai định nghỉ “Vốn hiện vật và vốn tài chính của DN.
Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hod đã sản xuất ra các hàng hoá khác, vôn tài chính là tiên và các giây tờ có giá của DN”. Nhu vay, David Begg di bé sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Samuelson. Khái niệm về vốn kinh doanh (VKD) rất phong phú và đa dạng, các quan niệm này được đưa ra dựa trên tư duy logic, quan điểm, mục tiêu và lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả hoặc nhóm các nhà khoa học. Để án sẽ nêu ra và phân tích các quan điểm khác nhau về VKD trong những thời kỳ lịch sử khác nhau như theo quan điểm của Paul A.
Samuelson, David Begg, nhóm tác giả trường Đại học kinh tế quốc dân, Học viện Tài chính và một số tác giả khác. “Tác giả nhận thấy rằng với những cách tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau thì có những khái niệm khác nhau về VKD. Song, nhìn chung các quan niệm khác nhau đó đều có những điểm chung nhất và cho. rằng VKD của doanh nghiệp có những đặc trưng sau: Một là, vốn kinh doanh đại diện cho một lượng tài sản ứng trước và biểu hiện bằng giá trị tiền tệ nhất định đề dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Hai là, vốn kinh doanh phải tích tụ và tập trung với một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng trong đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Ba là, vốn kinh doanh gắn liền với chủ sở hữu nhất định. Bốn là, khi sử dụng vốn kinh doanh vào mục tiêu nào đó, đều phải tính đến giá trị và hiệu quả của nó. “Từ những phân tích trên, theo quan điểm của cá nhân tác giả, “vốn kinh doanh có thê được hiểu một cách khái quát là giá trị được đo lường bằng tiền của những yếu tố được ứng trước dùng đẻ hình thành nên các tư liệu sản xuất, trả công cho người lao động, tiến hành hoạt động sản xuất và hoàn thành sản phẩm, dịch vụ với mục địch thu về lợi ích lớn hơn số vốn bỏ ra.
Nói cách khác, vốn kinh doanh là giá trị của toàn bộ tài sản doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục dich thu được lợi ích trong tương lai. Đặc điểm vốn kinh doanh của doanh nghiệp Với mục đích quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, các doanh nghiệp có thể nhận thức vốn qua một số đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị có thực. Vốn là một lượng, tiền đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, tức là được đảm bảo bằng một lượng. tài sản có thực.
Tài sản đó có thể có hình thai vat chất cụ thể hoặc không có hình thái vật chất cụ thể được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai, vốn được tập trung tích tụ thành một lượng nhất định đủ sức đâu tư kinh doanh. Việc tích tụ tập trung vốn đến một giới hạn nào đó mới đủ sức phát huy tác dụng, cho dù đó là một phương án kinh doanh nhỏ nhất. Nếu vốn nằm rải rác ở khắp nơi, không được tích tụ tập trung đến một lượng đủ lớn thì tác dụng của vốn không được phát huy hoặc phát huy không đáng kể.
Chính vì thế, các doanh nghiệp. lúc khởi nghiệp phải tiến hành các biện pháp đề khai thác thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi thành một món đủ lớn đề đầu tư kinh doanh. Không những thế, trong hoạt động. sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp vẫn không ngừng tìm kiếm các biện pháp để tích tụ tập trung vốn nhằm tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh của mình.
Thứ ba, trong nên kinh tế thị trường, vốn phải vận động sinh lời. Mục đích vận động của vốn là để sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền quay về nơi xuất phát phải lớn hơn số tiền bỏ ra ban đầu lúc xuất phát - Đó là nguyên tắc của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Phương thức vận động của vốn do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định.
Có thể mô phỏng quá trình vận động của vốn qua các sơ đồ sau: “Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh: SLĐ T.H' X TLSX Trong lĩnh vực thương mại: 1. Trong lĩnh vực đầu tư cổ phiếu, trái phiếu. Tact? Trong thực tế, một doanh nghiệp có thể vận dụng một hoặc đồng thời cả ba phương thức vận động trên miễn sao là bảo toàn và phát triển được vốn, đạt được mức doanh lợi cao và không trái với pháp luật Thứ tư, von có giá trị về mặt thời gian. Trong nền kinh tế thị trường, một đồng, vốn ở thời điểm này khác với giá trị của một đồng vốn ở thời điềm khác, đó chính là giá trị thời gian của vốn.
Vốn có giá trị về mặt thời gian là do trong nên kinh tế thị trường có sự tồn tại của các nhân tố như là giá cả thị trường, lạm phát, khủng hoảng. Các nhân tố này tồn tại một cách cố hữu, tiềm ẩn trong hoạt động của nền kinh tế thị trường. Các nhân tổ này ở các thời điểm khác nhau có thể biểu hiện và mức độ tác động khác nhau, ảnh hưởng đến các giá trị của tiên làm cho sức mua của tiên ở các thời điểm khác nhau sẽ không giống nhau (sức mạnh của đồng tiền giảm theo thời gian). Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường người ta quan niệm là vốn phải thường.
xuyên vận động sinh lời, không có đồng vốn “chết”. Cho nên việc xem xét những. thiệt hại do ứ đọng vốn, vòng quay vốn thấp. Luôn là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm thì khi xem xét, đánh giá hoạt động sản xuất vốn.
Điều đó đòi hỏi các doanh. nghiệp phải xét đến giá trị thời gian của vốn. Thứ năm, vốn gắn liền với chủ sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường, vốn luôn được gắn liền với chủ sở hữu.
Không thê có một đồng vốn vô chủ, vô chủ đồng nghĩa với sử dụng vốn lãng phí kém hiệu quả. Chỉ có những đồng vốn gắn liền với chủ sở. hữu nhất định, gần liền với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì đồng vốn đó mới được sử dụng đúng mục đích, sử dụng có hiệu quả. Tuy là trong nền kinh tế thị trường, vấn đề tách rời quyền sở hữu và sử dụng vốn là rất phô biến nhưng cho dù ở bất kì hình thức.
nào thì nó vẫn được gắn liền với chủ sở hữu, gắn liền với quyền lợi của chủ sở hữu. Thứ sáu, vốn được coi như loại hàng hoá đặc biệt. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi như một loại hàng hoá. Những người có vốn đưa vào thị trường, còn những người cần vốn tìm nguồn vốn tìm nguồn để “mua quyền sử dụng”.
được quyền sử dụng vốn đó, người mua phải trả cho người bán một giá nhất định, đó là quyền đề có được quyền sử dụng vốn mà người ta gọi là quyền sử dụng vốn. Thứ bảy, vốn kinh doanh bao gôm cả giá trị của các tài sản vô hình. Trong nên kinh tế thị trường, giá trị thực của doanh nghiệp không cho phép cộng giản đơn số vốn có định và vốn lưu động hiên có mà còn tính đến giá trị của một số tài sản có. khả năng kinh doanh sinh lời như vị trí địa lý, bí quyết về công nghệ chế tạo sản phẩm, mức độ uy tín của nhãn hiệu sản phẩm.
Người ta gọi những tải sản này là những tài sản vô hình. Những tài sản này có vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của một của doanh nghiệp, nó được coi như bộ phận vốn của doanh. Chính vì vậy, khi xác định vốn kinh doanh cần phải lượng hoá những tài sản này để qui về giá trị, nhằm xác định chính xác vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp Tùy thuộc vào từng cách tiếp cận, góc độ đánh giá mà sẽ có những cách phân loại vốn kinh doanh khác nhau.
Việc phân chia này sẽ giúp các chủ sở hữu hiễu rõ hơn về 10 bản chất của vốn kinh doanh, cũng như các nguồn hình thành khác nhau của vốn kinh doanh. Dưới đây là một số cách phân loại vốn kinh doanh phô biến được nhiều doanh nghiệp áp dụng hiện nay, cụ thé: a. Căn cứ theo đặc điểm luân chuyễn, vốn được chia làm 2 loại: vốn cố định và vốn lưu động: * Vốn cố định: 'Vốn có định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, là khoản đầu tư ứng trước hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp. Vì vậy quy mô VCĐ.
nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của TSCD. VCD anh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật vật chất và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh. Song ngược lại, những đặc điểm vận động của TSCĐ trong quá trình sử dụng. lại có ảnh hưởng quyết định, chỉ phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ.
Từ mối liên hệ đó, ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động cia VCD trong quá trình sản xuất kinh doanh. ~ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.