ĐẶT VẤN ĐỀ Thị trường dược phẩm Việt Nam giai đoạn 2019 – 2022 bị ảnh hưởng bởi đại dịch covid gặp không ít khó khăn khi chuỗi cung ứng đứt gãy, giá nguyên liệu và vận chuyển tăng cao, cùng đó là các quy định phòng chống dịch bệnh siết chặt của Chính phủ như giảm chi phí y tế thông qua thông tư số 09/2016/TT-BYT ban hành danh mục thuốc áp dụng hình thức đàm phán giá. Thị trường dược phẩm trong giai đoạn này bị trì trệ nặng nề. Theo Fitch Solutions, trong năm 2021 ngành dược phẩm Việt Nam tăng 8,7%, khiêm tốn so với giai đoạn 2010 – 2019. Ngành dược Việt Nam khó tăng đột phá vì nguồn nguyên liệu sản xuất phụ thuộc đến 90% vào nhập khẩu, Trung Quốc và Ấn Độ chiếm hơn 80% nguồn cung.
Đại dịch ập đến khiến thách thức tăng lên. Do đó các công ty kinh doanh dược phẩm ít nhiều cần phải linh hoạt thay đổi mô hình kinh doanh để thích ứng với thị trường. Công ty TNHH Đại Bắc - Miền Nam là một trong số các công ty dược phẩm đối mặt với đại dịch và thực hiện những thay đổi trong cơ cấu kinh doanh để thích ứng và tiếp tục giữ vững thành tích kinh doanh trong và sau sự tác động của đại dịch. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Đại Bắc - Miền Nam năm 2021” với 02 mục tiêu: 1.
Phân tích cơ cấu danh mục mặt hàng kinh doanh của Công ty TNHH Đại Bắc – Miền Nam năm 2021; 2. Phân tích một số kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Đại Bắc – Miền Nam năm 2021. Kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra những mặt hàng có tiềm lực kinh doanh và thị trường kinh doanh tốt, từ đó ra các ý kiến đề xuất với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong những năm tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.
Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh là hoạt động tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Với mục đích kiếm lời, các doanh nghiệp thuộc các loại hình và các hình thức sở hữu khác nhau hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều tiến hành các hoạt động kinh doanh [7][16][21]. Phân tích hoạt động kinh doanh (PTHĐKD) gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. Ban đầu trong điều kiện chưa phát triển, yêu cầu thông tin cho quản lý doanh nghiệp chưa nhiều, công việc phân tích chỉ là những phép tính cộng trừ đơn giản.
Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý kinh tế ngày càng tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, PTHĐKD được hình thành ngày càng hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập.[16][21] Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá tàon bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác từ đó đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh PTHĐKD là công cụ để phát triển những khả năng tiềm tàng và công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh [22] PTHĐKD là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh, thông qua các tai liệu phân tích, cho phép các doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về các khả năng, sức mạnh cũng như hạn chế của doanh nghiệp mình [31][20] PTHĐKD còn là cơ sở kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính và hoạt động quản lý của mọi cấp quản trị. Thông qua việc phân tích sẽ góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [16][21] Từ những ý nghĩa trên, ta thấy PTHĐKD có vai trò rất quan trọng đối với mọi 2 nhà quản trị trong nền kinh tế thị trường, là công cụ hữu ích để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các điểm mạnh, yếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó phát hiện ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan giúp cho nhà quản trị lựa chọn và đưa ra các quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm, là công cụ đắc lực cho doanh nghiệp đạt kết quả và hiệu quả cao nhất. Yêu cầu của phân tích hoạt động kinh doanh Tính đầy đủ: nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc nhiều vào sự đầy đủ nguồn tài liệu phục vụ cho công tác phân tích. Đảm bảo tính toán tất cả các chỉ tiêu cần thiết thì mới đánh giá đúng được đối tượng phân tích. Tính chính xác: chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc nhiều vào tính chính xác về nguồn số liệu, sự chính xác trong lựa chọn phương pháp phân tích.
[16][21] Tính kịp thời: sau mỗi chu kỳ hoạt động kinh doanh phải kịp thời tổ chức phân tích đánh giá tình hình hoạt động, kết quả và hiệu quả đạt được, để nắm bắt được những mặt mạnh, những tồn tại trong hoạt động kinh doanh. [16][21] Thông qua đó đề xuất những giải pháp cho thời kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo có kết quả và hiệu quả cao hơn. Mặt khác, quá trình kiểm tra, đánh giá có được cơ sở để định hướng nghiên cứu sâu hơn ở các bước sau nhằm làm rõ các vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm. Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động qua các chỉ tiêu kinh tế.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó. Biến động của chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây nên, do đó phải xác định trị số của các nhân tố và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó. Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại 3 yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh. Phân tích kết quả kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả chung chung, mà phải từ cơ sở nhận thức do phát hiện các tiềm năng cần phải được khai thác và những tồn tại yếu kém, nhằm đề xuất giải pháp phát huy thế mạnh và khắc phục những tồn tại ở doanh nghiệp của mình.
Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào kết quả đạt được. Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả kinh doanh là để nhận biết tiến độ thực hiện và phát hiện những thay đổi có thể xảy ra. Định kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm tra và đánh giá mọi khía cạnh hoạt động, đồng thời căn cứ vào các tác động ở bên ngoài để xác định vị trí và hướng đi của doanh nghiệp, các phương án kinh doanh có còn thích hợp nữa hay không? Nếu không phù hợp cần phải điều chỉnh kịp thời. Một số chỉ tiêu phân tích hoạt động của doanh nghiệp 1.
Cơ cấu sản phẩm kinh doanh Do sự phân công lao động xã hội, cũng như nhu cầu của thị trường, mỗi doanh nghiệp thường đưa ra thị trường một số hàng hóa nhất định. Các loại hàng hóa đó tạo nên cơ cấu sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ cấu sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bởi 2 yếu tố: - Kích thước tập hợp sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường - Cấu trúc bên trong của tập hợp sản phẩm đó Kích thước của tập hợp sản phẩm bao gồm 3 chiều: chiều dài, chiều rộng và chiều sâu sản phẩm. Cấu trúc bên trong của tập hợp sản phẩm phản ánh mối quan hệ tương tác của từng loại, từng chủng loại trong tập hợp sản phẩm đó.
Về mặt lượng, nó được đo bằng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của từng loại sản phẩm trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn bộ tập hợp sản phẩm [30]. Danh mục sản phẩm mới chỉ xác định được kích thước của tập hợp, tức là mới chỉ liệt kê được các loại, các chủng loại sản phẩm, số mẫu mã sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, chứ chưa phản ánh được vị trí, cấu trúc bên trong của tập 4 hợp sản phẩm ấy như cơ cấu sản phẩm [31], [20]. Doanh thu Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ, doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu từ hoạt động khác [31], [20].
Doanh thu của doanh nghiệp được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu thuần, doanh thu hoạt động tài chính,.trong đó doanh thu thuần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp [30]. Do vậy khi tiến hành phân tích doanh thu, doanh thu thuần được người sử dụng thông tin đặc biệt quan tâm. Doanh thu thuần của doanh nghiệp là tổng của hai nhân tố: doanh thu thuần về bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu thuần hoạt động tài chính. Trong đó, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là kết quả thu được khi lấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu.
Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu phát sinh từ tiền lãi gửi, lãi cho vay, lãi đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, chiết khấu thanh toán, tiền lãi bản quyền, lãi đầu tư khác,.khi trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu hoạt động tài chính (các khoản chiết khấu thương mại, doanh thu hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán,.thuộc hoạt động tài chính) sẽ tạo nên chỉ tiêu doanh thu thuần hoạt động tài chính [31], [20]. Doanh thu của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, là nguồn kinh phí để doanh nghiệp trang trải các chi phí, thực hiện tái sản xuất cũng như thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Chi phí Chi phí là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tính trong một thời kỳ nhất định. 5 Các loại chi phí trong kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: - Giá vốn hàng bán: là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc tạo ra sản phẩm.