CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về vốn và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất, kinh doanh. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn kinh doanh. Vốn được dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Vốn kinh doanh thường xuyên vận động và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn được chuyển hoá từ giá trị ban đầu sang các hình thái hiện vật như tư liệu sản xuất, thành phẩm… và cuối cùng chuyển hoá ngược lại thành giá trị ban đầu để tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho sự ra đời của mỗi doanh nghiệp, mà còn là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất, tăng doanh thu và lợi nhuận. Theo Marx, vốn (tư bản) là giá trị mang lại giá trị thặng dư, hay nói cách khác vốn là một yếu tố mà khi được sử dụng vào quá trình sản xuất sẽ tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân [9].
Quan điểm của Marx đề cập đến mục tiêu quản lý và sử dụng vốn, nhưng quan điểm này mang tính trừu tượng, do vậy sẽ gặp khó khăn khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cụ thể. Theo quan điểm của David Begg thì vốn bao gồm tất cả các loại tài sản được dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn không chỉ tồn tại ở các hình thái hiện vật như giá trị của tài sản CĐ (TSCĐ), hàng hóa, nhà cửa,. 7 mà còn ở các hình thái giá trị, đây chính là hình thái ban đầu và cũng là hình thái cuối cùng của vốn [10].
Bởi lẽ, sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh (SXKD), vốn được thu hồi về dưới dạng ban đầu là tiền theo vòng chu chuyển T - H – T’. Quan điểm này đề cập đến nguồn gốc hình thành và trạng thái biểu hiện của vốn. “Như vậy có thể hiểu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. Đặc trưng, vai trò của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 1.
Đặc trưng của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên có trong tay một lượng vốn lớn chưa hẳn doanh nghiệp đã đạt được những mục tiêu kinh doanh của mình. Vấn đề đặt ra trong mỗi doanh nghiệp khi đã có vốn là việc quản lý và sử dụng vốn có hợp lý và hiệu quả không. Để làm được điều đó thì trước tiên nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải nhận thức đầy đủ về những đặc trưng của vốn kinh doanh: Nhằm phân tích hiệu quả sử dụng vốn thì cần phải phân tích rõ các đặc trưng của vốn[11].
Thứ nhất: Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa là nó biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình đang hoạt động phục vụ cho SXKD. Những tài sản ở trạng thái tĩnh được gọi là vốn tiềm năng. Nhận thức được đặc trưng này sẽ giúp cho các doanh nghiệp SXKD phải tìm mọi cách để huy động được nhiều tài sản vào quá trình SXKD, biến vốn tiềm năng thành vốn hoạt động. Thứ hai: Vốn luôn vận động để sinh lời.
Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì đồng tiền đó 8 phải được đưa vào hoạt động SXKD nhằm kiếm lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng kết thúc vòng tuần hoàn nó phải trở về hình thái ban đầu của nó là tiền với giá trị lớn hơn. Đó là nguyên lý đầu tư, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn.
Do vậy doanh nghiệp phải tìm mọi cách làm cho đồng vốn sinh lời, không bị ứ đọng, huy động mọi nguồn lực, tài lực vào phát triển SXKD. Thứ ba: Vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Nếu đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ có chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả. Chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao.
Cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, tuỳ theo hình thức đầu tư mà người có quyền sở hữu và quyền sử dụng là đồng nhất hoặc riêng rẽ. Song dù trong trường hợp nào, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý vốn. Thứ tư: Phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, điều này có nghĩa là vốn có giá trị về mặt thời gian.
Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét giá trị thời gian bởi sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát. Nhận thức được đặc trưng này của vốn để tránh được việc so sánh đơn thuần thu nhập bù đắp chi phí có lãi, có thể sẽ tạo ra hiện tượng “lãi giả, lỗ thật” trong các doanh nghiệp SXKD. Thứ năm: Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể đầu tư vào SXKD nhằm mục đích sinh lời. Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác.
Thứ sáu: Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Nhưng người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn. 9 Khi đó quyền sở hữu vốn không thay đổi nhưng quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự vay nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lợi suất hay chính là giá của quyền sử dụng vốn.
Như vậy, khác với hàng hóa thông thường, vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Việc mua bán này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường. Vai trò của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường diễn ra sự cạnh tranh vô cùng quyết liệt và phức tạp, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa. Bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù ở bất cứ cấp độ nào, lớn hay nhỏ đều cần có lượng vốn nhất định dưới nhiều dạng khác nhau.
Vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Trước tiên, vốn được xem là điều kiện tiên quyết để cho một doanh nghiệp có thể được thành lập và vận hành. Vốn cũng là một trong những điều kiện để có thể phân chia loại hình doanh nghiệp nhỏ, vừa hay lớn. Vốn đóng một vai trò rất quan trọng trong sự duy trì và phát triển đối với một doanh nghiệp.
Để có thể vận hành tốt một hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên doanh nghiệp cần phải có nguồn lao động, nguyên liệu đầu vào, các thiết bị, máy móc. Và điều này bắt buộc doanh nghiệp phải có vốn thì mới có thể mua và sử dụng các yếu tố đầu vào này được. Nếu một doanh nghiệp không có vốn thì điều hiển nhiên là không thể thành lập và duy trì các hoạt động sản xuất được. Vậy nên, vốn được xem là điều kiện tiên quyết cho các hoạt động kinh doanh được vận hành.
Một vai trò quan trọng nữa của vốn kinh doanh đó chính là sự thay đổi về cơ sở vật chất, vốn là điều kiện cần để cho các nhà quản trị đưa ra những chiến lược hợp lý cho doanh nghiệp được phát triển, từ đó, đưa ra các quyết định như 10 tân tiến máy móc, thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh để cạnh tranh với những doanh nghiệp khác. Cuối cùng, vốn mang tính chất quyết định cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Việc quản lý vốn và sử dụng vốn đóng vai trò rất quan trọng cho tương lai của doanh nghiệp đó. Phân loại vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh có thể được phân loại dựa trên rất nhiều tiêu chí khác nhau.
Do vậy có thể căn cứ vào tiêu chí cụ thể như sau: 1. Phân loại theo kết quả của hoạt động đầu tư 1. Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản lưu động Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản lưu động (TSLĐ) hay còn gọi là tài sản ngắn hạn là số vốn đầu tư để hình thành các TSLĐ của doanh nghiệp phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh đầu tư vào TSLĐ bao gồm các loại vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các TSLĐ khác của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản cố định Vốn kinh doanh đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành các TSCĐ hữu hình và vô hình của doanh nghiệp như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, dụng cụ quản lý, các chi phí mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu độc quyền, giá trị lợi thế về vị trí địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính là số vốn doanh nghiệp đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác. 11 Dựa vào các cách phân loại VKD trên, doanh nghiệp có thể lựa chọn được cơ cấu tài sản đầu tư hợp lý, hiệu quả dựa trên đặc điểm về ngành nghề kinh doanh khác nhau của mỗi doanh nghiệp.