Chương 1: Lý luận chung về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh .1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, thành phần, đặc trưng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Hiện nay, chúng ta đã có 5 loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty tư nhân, xí nghiệp liên doanh và hợp tác xã. Mỗi hình thức trên có những đặc điểm khác nhau nhưng tất cả đều phải được hình thành từ những cơ sở nhất định mà cái quan trọng nhất là vốn kinh doanh. Không thể nói rằng một doanh nghiệp mới được hình thành mà không cần một lượng vốn tiền tệ nhất định để thực hiện những khoản đầu tư cho việc xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, mua nguyên vật liệu, trả lương công nhân, trả lãi các khoản vay… Người ta gọi chung các loại vốn tiền tệ này là vốn sản xuất kinh doanh hay vốn kinh doanh chính là “toàn bộ giá trị ứng cho quá trình sản xuất kinh doanh”. Trong cơ chế thị trường, các đơn vị doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi hàng hoá dịch vụ với các đơn vị kinh tế khác nhưng mục đích tối đa hoá lợi nhuận.
Để thực hiện được các hoạt động này, doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn, nhiều chủng loại và các hình thái khác nhau theo phạm vi mạng lưới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, có thể coi vốn là tiền đề của mọi quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh. Vốn là một quĩ tiền tệ đặc biệt, là tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Vốn có 5 đặc trưng cơ bản sau : Sinh viên: Nguyễn Văn Thành Trang 5 Lớp: CQ46/11.05 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp * Vốn được hiểu bằng giá trị của toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Vốn là lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình. * Vốn được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Để đầu tư sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp được tích tụ thành một lượng tiền lớn tới mức ít nhất bằng vốn pháp định mà nhà nước đã qui định cho mỗi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động. Các nhà quản lý, các nhà đầu tư không chỉ khai thác mọi tiềm năng vốn của doanh nghiệp mà còn phải cân nhắc, tính toán để lựa chọn để chọn nguồn huy động đảm bảo yêu cầu của sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế của đồng vốn.
* Vốn không đồng nhất với tiền tê. Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của các doanh nghiệp nhưng hẳn có tiền vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì tiền phải được đưa vào sản xuất kinh doanh và sinh lời.
Đồng thời, vốn phải không ngừng được bảo toàn, bổ sung và phát triển sau mỗi quá trình vận động để thực hiện tái sản giản đơn và mở rộng của doanh nghiệp. * Vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định để tránh sự chi tiêu lãng phí thất thoát và kém hiệu quả. * Vốn là một thứ hàng hoá đặc biệt chỉ bán quyền sử dụng. Người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định và phải cho việc có quyền sử dụng vốn trong thời gian ấy.2 Phân loại vốn kinh doanh Với tầm quan trọng mang tính chất sống còn của vốn đã nêu trên thì việc quản lý và sử dụng vốn là hết sức cần thiết.
Để quản lý vốn tốt thì không thể không đề cập đến việc phân loại vốn. Có phương pháp phân loại hợp lý sẽ làm cho việc sử dụng vốn. Có nhiều cơ sở khác nhau để phân loại vốn : Sinh viên: Nguyễn Văn Thành Trang 6 Lớp: CQ46/11.05 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp * Căn cứ vào nguồn hình thành vốn, người ta có thể chia vốn làm 2 loại + Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả. * Căn cứ vào thời gian hoạt động của vốn, vốn được chia thành.
+ Vốn ngắn hạn + Vốn dài hạn. Tuy nhiên, quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là các chu kì được lặp đi lặp lại. Mỗi chu kỳ được chia thành các giai đoạn: Chuẩn bị sản xuất → sản xuất → tiêu thụ đối với doanh nghiệp sản xuất; hoặc hàng hoá → tiêu thụ đối với các doanh nghiệp thương mại. Trong mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh vốn được luân chuyển và tuân hoàn không ngừng.
* Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của vốn trong các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, người ta chia vốn thành: + Vốn cố định + Vốn lưu động.1 Vốn cố định(VCĐ) Trong điều kiện cuả nền kinh tế hàng hoá tiền tệ để hình thành xây dựng hoặc mua sắm các tài sản cố định thì các doanh nghiệp cần phải có vốn đầu tư ứng trước và số vốn đầu tư ứng trước để xây dựng mua sắm các tài sản cố định được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. * Đặc trưng của VCĐ: - VCĐ là số vốn đầu tư ứng trước vì vậy số này cần phải được thu hồi lại một cách đầy đủ bảo toàn VCĐ. - Do VCĐ là vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ vì vậy quy mô cuả VCĐ là lớn hay nhỏ sẽ quyết định quy mô TSCĐ của doanh nghiệp cũng như Sinh viên: Nguyễn Văn Thành Trang 7 Lớp: CQ46/11.05 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. - Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh sẽ chi phối đặc điểm vận động ( chu chuyển) của VCĐ.
* Các đặc đỉêm chu chuyển của VCĐ: So với VLĐ trong quá trình tham giá sản xuất kinh doanh sự vận động cuả VCĐ có các đặc đỉêm sau: + VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.VCĐ có đặc điểm này do TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất nhất định. + VCĐ chu chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh. Trong mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh chỉ có một bộ phận VCĐ được chu chuyển và cấu thành chi phí sản xuất kinh donah dưới hình thức khấu hao TSCĐ tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ. Bộ phận còn lại chưa chu chuyển tồn tại dưới hình thức là giá trị còn lại của TSCD.
Bộ phận này ngày một giảm đi cùng với sự gia tăng về thời gian sử dụng của TSCĐ. + VCĐ chỉ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ đã hết thời gian sử dụng Như vậy VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm cuả nó là chu chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ đã hết thời hạn sử dụng. Chính vì VCĐ có đặc điểm luân chuyển như trên nên đòi hỏi việc quản lý VCĐ phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TSCĐ bên cạnh đó phải có Sinh viên: Nguyễn Văn Thành Trang 8 Lớp: CQ46/11.05 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp những biện pháp tổ chức và sử dụng VCĐ sao cho vừa bảo toàn vừa phát triển được VCĐ.2 Vốn lưu động (VLĐ) Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước về các TSLĐ sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên và liên tục. Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ nên đặc đỉêm vận động của VLĐ luôn chịu sự chi phối bởi những đặc đỉêm của TSLĐ.
Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các TSLĐ doanh nghiệp còn cần phải có TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông. -TSLĐ sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: + Các đối tượng lao động như các vật tư dự trữ trong quá trình sản xuất( nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu và các vật tư đang nằm trong quá trình chế biến ) ví dụ như sản phẩm dở dang của quá trình kinh doanh, các loại bán thành phẩm sửa chữa. + Một bộ phận tư liệu lao động của doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ hữu hình để tiện cho việc quản lý và đầu tư mua sắm theo chế dộ tài chính hiện hành chúng cũng được xếp vào TSCĐ tài chính của doanh nghiệp gọi tên là công cụ, dụng cụ hoặc gọi là công cụ lao động thuộc TSCĐ. + TSLĐ lưu thông của doanh nghiệp bao gồm các loại sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, các khoản vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì các TSLĐ sản xuất và các TSLĐ lưu thông luôn luôn vận động chuyển hoá nhau và tuần hoàn một Sinh viên: Nguyễn Văn Thành Trang 9 Lớp: CQ46/11.05 Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp cách không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra liên tục.VLĐ của doanh nghiệp thường xuyên vận động, luôn thay đổi hình thái biểu hiện và sự vận động của chúng trải qua 3 giai đoạn sau: → Giai đoạn 1:( T –H) Doanh nghiệp dùng tiền mua các loại đối tượng lao đông để dự trữ sản xuất, kết thúc giai đoạn này VLĐ đã từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư hàng hoá.H’): Doanh nghiệp tiến hành dự trữ số nguyên vật liệu mua về tại kho hình thành vật tư dự trữ sản xuất sau đó tiến hành sản xuất sản phẩm. Các vật tư được sản xuất dần ra để sử dụng và trải qua quá trình sản xuất, sản phẩm mới được dự trữ sản xuất chuyển sang hình thái sản phẩm dở dang và cuối cùng chuyển sang hình thái sản phẩm. → Giai đoạn 3 : (H’ – T’): Doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu đựơc tiền về ở giai đoạn này VLĐ đã từ hình thái thành phẩm chuyển sang hình thái tiền tệ điểm xuất phát của vòng tuần hoàn vốn. Đặc điểm chu chuyển của VLĐ: So với VCĐ thì trong quá trình tham gia SXKD VLĐ có 3 đặc đỉêm sau: + Luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện + Chu chuyển giá trị toàn bộ trong một lần + VLĐ thoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm.
Từ đặc đỉêm của VLĐ đòi hỏi trong quá trình quản lý và sử dụng VLĐ cần phải quan tâm đến các vấn đề sau: Sinh viên: Nguyễn Văn Thành Trang 10 Lớp: CQ46/11.