CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.Lý thuyết chung về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Tài sản là một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống, là vấn đề trọng tâm của các mối quan hệ trong xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng. Tài sản tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, rất đa dạng và phong phú, từ đó có rất nhiều quan niệm về tài sản được đưa ra. Tài sản của doanh nghiệp theo Nguyễn Đình Kiệm (2012) là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình, gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế tương lai cho doanh nghiệp đó.
Theo Phạm Hùng (2015) tài sản có thể được phân chia thành nhiều nhóm theo từng tiêu thức khác nhau. Có thể phân loại theo đặc tính cấu tạo vật chất hoặc phân loại theo tính chất luân chuyển tài sản, cụ thể là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Theo Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “tài sản là thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước; có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực tế hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên”.
Theo chuẩn mực kế toán số 1 – Chuẩn mực chung (ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ – BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). “Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp còn được bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát về mặt pháp lý như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn 3 các điều kiện trong định nghĩa về tài sản, khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai nhưng không làm tăng tài sản.” Như vậy, yêu cầu chung của tài sản là thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của doanh nghiệp, đồng thời có thể sinh lời trong tương lai.
Đặc tính này cũng quyết định tầm quan trọng của tài sản đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ, không thể tồn tại và phát triển lâu dài nếu không có tài sản. Chính vì vậy, cần thực hiện quản lý tài sản để những tài sản đó đem lại lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Đặc điểm tài sản trong doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp có một số đặc điểm cơ bản sau: - Tài sản thuộc một chủ sở hữu đích thực.
Nếu không phân biệt cụ thể quyền sở hữu, sử dụng tài sản thì sẽ xảy ra tình trạng lãng phí, không hiệu quả. - Tài sản được sử dụng nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu. - Tài sản doanh nghiệp có thể tồn tại dưới dạng vô hình hoặc hữu hình. - Tài sản có thể chuyển nhượng, trao đổi: một tài sản có thể chuyển nhượng giữa những người đang sống với nhau.
Một tài sản có thể được mua, bán, tặng, cho với người thứ ba. Các quyền về tài sản có thể tồn tại dưới dạng đền bù hoặc không đền bù. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp Tài sản chiếm một vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình kinh doanh. Để tiến hành được thành công các hoạt động này thì nhất thiết doanh nghiệp cần phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm máy móc, hàng hóa, nguyên vật liệu,.
Chính vì vậy đây sẽ là một điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp có thể đi vào sản xuất kinh doanh bình thường. Tài sản mang lại lợi ích kinh tế bằng cách tham gia dòng tiền vào hoặc giảm dòng tiền ra. Tài sản của doanh nghiệp có thể dùng để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác hoặc thanh toán các khoản nợ phải trả; phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp hay được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng. 4 TSNH là công cụ dùng để phản ánh cũng như đánh giá quá trình sản xuất, mua sắm, dự trữ và tiêu thụ của doanh nghiệp.
Lượng hàng hóa dự trữ trong các khâu nhiều hay ít phản ánh nhu cầu vốn lưu động ít hay nhiều. Việc luân chuyển tài sản nhanh hay chậm phản ánh lượng vật tư đang lãng phí hay tiết kiệm, mức độ luân chuyển có hợp lý hay không? Ngoài ra còn quyết định đến quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp qua TSDH. Nếu muốn mở rộng quy mô thì cần có thêm lượng vật tư để sản xuất hoặc dự trữ và vốn bằng tiền còn giúp cho họ tạo ra lợi thế cạnh tranh.Phân loại tài sản trong doanh nghiệp Tài sản tại doanh nghiệp có thể được phân chia theo thời gian thu hồi/sử dụng (tài sản ngắn hạn/tài sản dài hạn), theo hình thái tồn tại (tài sản hữu hình/ tài sản vô hình), theo tính chất vật lý (động sản/bất động sản), theo tính chất sở hữu (tài sản công/ tài sản tư). Sự phân chia này mang tính chất tương đối và thường đan xen với nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề, các tài sản được tập trung quản lý dựa trên thời gian thu hồi/sử dụng của tài sản, bao gồm tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn. Mỗi loại tài sản trên có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi nội dung quản lý khác nhau. Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản có giá trị thấp và thời gian sử dụng ngắn, trong khoảng thời gian một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.
Theo Nguyễn Đình Kiệm (2012) tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là TSNH. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là TSNH. TSNH gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn và TSNH khác.
5 - Tiền và các khoản tương đương tiền có thể kể đến bao gồm tiền mặt công ty đang nắm giữ, tiền gửi ngân hàng không kì hạn, vàng, bạc, kim khí, đá quý và tiền đang chuyển. Trong các loại tài sản tại doanh nghiệp, tiền có tính thanh khoản cao nhất, là phương tiện thanh toán, đảm bảo sự tồn tại của doanh nghiệp. Với tính chất vô danh của tiền, nhà quản lý cần có biện pháp hữu hiệu để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp trong điều kiện an toàn. - Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là các khoản đầu tư mà công ty dùng vốn để mua chứng khoán (tín phiếu kho bạc, trái phiếu công ty, cổ phiếu.) với mục đích hưởng lợi nhuận từ cổ tức, hay mua đi bán lại để tạo ra đồng sinh lời, hoặc tham gia là một cổ đông để được chia sẻ lợi ích và trách nhiệm với doanh nghiệp phát hành chứng khoán đó.
- Các khoản phải thu ngắn hạn là các khoản phải thu của khách hàng, của nội bộ hay các khoản phải thu khác có thời gian thu hồi yêu cầu dưới 1 năm. Khoản mục nay ghi nhận số tiền còn phải thu của khách hàng và các đối tượng khác có liên quan hoặc tiền ứng trước cho người bán nhưng chưa nhận sản phẩm. Khi khoản phải thu được thu hồi, ngân quỹ của doanh nghiệp được bổ sung. Như vậy, hình thái tồn tại của 2 khoản mục Tiền và Phải thu có thể chuyển hóa trực tiếp cho nhau nên hoạt động quản lý khoản phải thu và quản lý tiền có mối liên hệ mật thiết.
Đòi hỏi sự chú trọng đúng mức để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Trong quá trình quản lý, để xác định giá trị hợp lý của khoản phải thu tại thời điểm lập báo cáo tài chính, nhà quản lý được phép trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi theo quy định của pháp luật. - Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng gửi bán, công cụ dụng cụ,. là những tài sản tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn hạn, thường có thời gian là một năm trở xuống và sẽ được thu hồi vốn sau khi kết thúc chu kỳ sản xuất kinh doanh đó.
Mặc dù tên gọi là “Hàng tồn kho” song khoản mục này bao gồm toàn bộ giá trị của các loại hiện vật dự trữ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, gồm Hàng mua đi đường, Nguyên liệu, Vật liệu, Công cụ, Dụng cụ, Chi phí sản xuất, Kinh doanh dở dang, Thành phẩm, Hàng hoá, Hàng gửi đi bán, Hàng hoá kho bảo thuế.