Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chương 3: Phân tích thống kê hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp việt nam giai đoạn 2000-2005 Chương 2: Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thống kê hiệu quả sử dụng lao động 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 1.KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về doanh nghiệp công nghiệp. Doanh nghiệp công nghiệp là đơn vị cơ sở thực hiện một hay một số chức năng: Khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến sản phẩm, khai thác (nông, lâm, hải sản) và hoạt động phục vụ có tính chất công nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm công nghiệp để cung cấp cho nhu cầu sản suất và tiêu dùng của xã hội. Như vậy, doanh nghiệp công nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân thuộc ngành sản xuất vật chất đa dạng và năng động, góp phần làm tăng tổng cung đáp ứng tổng cầu của toàn xã hội.
Doanh nghiệp công nghiệp là danh từ chung cho các loại hình tổ chức sản xuất công nghiệp có hạch toán kinh tế độc lập (nhà máy, xí nghiệp, mỏ…; doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và là đơn vị điều tra trong thống kê doanh nghiệp. Phạm vi ngành công nghiệp. Công nghiệp được coi là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất đa dạng và năng động bao gồm một hệ thống các ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp, mỗi ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Công nghiệp là một bộ phận cấu thành cơ bản của nền sản xuất xã hội, tạo ra sản phẩm công nghiệp để cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng cho xã hội.
Xét trên góc độ quy mô có công nghiệp lớn, công nghiệp vừa và nhỏ. Xét trên góc độ sở hữu có công nghiệp nhà nước, công nghiệp dân doanh. Xét trên góc độ kỹ 5 thuật sản xuất bao gồm công nghiệp hiện đại và thủ công nghiệp. Trong bảng phân ngành kinh tế quốc dân theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) ngành công nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước.
Căn cứ vào đặc trưng kỹ thuật Tổng cục Thống kê phân các ngành công nghiệp cấp I thành các ngành cấp II,III và IV. Đặc trƣng về mặt kinh tế xã hội của sản xuất công nghiệp - Tính chất tiên tiến của quan hệ sản xuất công nghiệp: từ các đặc trưng về mặt kỹ thuật của sản xuất công nghiệp, công nghiệp trong quá trình phát triển luôn luôn có điều kiện phát triển về tổ chức sản xuất, về mặt kỹ thuật; lực lượng sản xuất cũng phát triển nhanh và ở trình độ cao. Chính vì vậy quan hệ sản xuất trong công nghiệp có tính chất tiên tiến để phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực luợng sản xuất. - Tính tiên phong về tổ chức sản xuất và phát triển sản xuất hàng hoá: Do 2 đặc trưng về mặt kỹ thuật của sản xuất công nghiệp là công nghệ sản xuất và sự biến đổi của đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất cùng với sự cần thiết phải phân công lao động ngày càng sâu sắc, ngành công nghiệp có điều kiện tiền đề phát triển sản xuất hàng hoá ở trình độ cao đáp ứng hơn nữa nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.
Từ trước đến nay, công nghiệp vẫn luôn là hình mẫu cho phát triển kinh tế hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân. - Tính chất tiên tiến của đội ngũ lao động công nghiệp: Sản phẩm công nghiệp đòi hỏi phải có tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định mới đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Do đó, lao động cũng phải có một trình độ nhất định, có tổ chức, tính kỷ luật cao và đặc biệt có tác phong lao động công nghiệp. Đặc điểm này đã góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm công nghiệp.
Trong cộng đồng dân cư của mỗi quốc gia, đội ngũ lao động công nghiệp luôn luôn là bộ phận tiên tiến. 6 - Sự liên kết giữa các ngành sản xuất: Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì xu thế đa dạng hoá, tính liên kết chặt chẽ và đạt hiệu quả cao của chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đã làm cho các đơn vị sản xuất kinh doanh xích lại gần nhau, cùng tìm đến mục tiêu hiệu quả và lợi nhuận. Sự đan xen, liên kết giữa các loại sản xuất khác nhau tạo nên những tổ hợp sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực hoạt động giúp giảm rủi ro trong kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế. - Cấu trúc công nghiệp nhiều tầng: Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế tất yếu phải tăng bộ phận công nghiệp có quy mô lớn và có công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào đặc điểm điều kiện của mỗi quốc gia và thực tiễn phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, để đạt được hiệu quả kinh tế cao không nhất thiết đòi hỏi phải có quy mô lớn. Để tăng trưởng và phát triển công nghiệp có nhiều lựa chọn khác nhau trong đó lựa chọn dựa trên cơ sở cấu trúc công nghiệp nhiều tầng là rất quan trọng. Cấu trúc đó là một tổng thể các bậc thang, tầng nấc khác nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau và được thể hiện trên nhiều phương diện: quy mô doanh nghiệp, loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, sở hữu vốn và tư liệu sản xuất, trang bị kỹ thuật, khả năng thâm nhập thị trường. - Tính linh hoạt trong sản xuất và đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng: cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập quốc dân tăng lên nhanh chóng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện dẫn đến nhu cầu tiêu dùng cũng có sự thay đổi; từ việc tiêu dùng sản phẩm có đặc tính bền đến sản phẩm đẹp, mốt, chất lượng và đa dạng tính năng sử dụng, chu kỳ sống của sản phẩm ngắn dần; thêm vào đó sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất công nghiệp đòi hỏi các nhà sản xuất công nghiệp phải nhanh chóng phát hiện nhu cầu, nhanh chóng thiết kế, chế tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
Như vậy, sản xuất công nghiệp đã thích ứng được với những đòi hỏi liên tục thay đổi của người tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu liên tục thay đổi đó. 7 - Sự liên kết giữa các nền công nghiệp của các quốc gia: Mỗi quốc gia trên thế giới có những lợi thế, khó khăn và những lợi thế chỉ mang tính tương đối. Chính vì vậy, tất yếu các quốc gia có sự liên kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau. Đó là xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và liên kết kinh tế quốc tế dẫn đến quốc tế hoá nền sản xuất công nghiệp.
Điều này được thể hiện trong tổ chức sản xuất kinh doanh, trong đầu tư, phát triển thị trường, quản lý điều hành nâng cao năng lực cạnh tranh. Phân loại công nghiệp. Để tổ chức hợp lý và có hiệu quả quá trình chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý công nghiệp cần phải có các phương pháp phân loại công nghiệp dựa trên những căn cứ khoa học nhất định. Một trong những nội dung quan trọng của tổ chức quản lý công nghiệp là tổ chức sắp xếp hoạt động công nghiệp thành các lĩnh vực, các ngành chuyên môn hoá, các loại hình sở hữu,… hình thành nên các đối tượng quản lý có các đặc trưng khác nhau.
Trong hoạt động quản lý công nghiệp thường được phân loại theo một số tiêu thức sau: - Căn cứ vào các đặc trưng kỹ thuật sản xuất: Dựa vào đặc trưng kỹ thuật sản xuất giống nhau để sắp xếp các cơ sở sản xuất kinh doanh thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá như ngành: Điện, Than, Dầu Khí, Thép, Khai thác khoáng sản, Phân bón - Hoá chất, Cơ khí, Tiêu dùng. Từ đó có thể hiểu ngành công nghiệp chuyên môn hoá là tổng hợp các doanh nghiệp có những đặc trưng kỹ thuật giống nhau hoặc tương tự nhau về hoạt động sản xuất chủ yếu. Căn cứ chủ yếu để thực hiện sự phân loại này là: + Sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương tự nhau. Đây là đặc trưng quan trọng nhất + Cùng thực hiện một phương pháp công nghệ hoặc công nghệ tương tự nhau (phương pháp công nghệ: cơ, lý, hoá, sinh học) 8 + Sản phẩm được sản xuất từ một loại nguyên liệu hoặc những nguyên liệu cùng loại.
Phương pháp phân loại thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng các mô hình cân đối liên ngành, đặc biệt là đối với sản phẩm công nghiệp chủ yếu, trong tổ chức quản lý theo ngành chuyên môn hoá, trong việc lựa chọn các hình thức tổ chức mối liên hệ sản xuất giữa các ngành. - Căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm được sản xuất ra, các ngành công nghiệp được chia thành 2 nhóm: các ngành nhóm A sản xuất tư liệu sản xuất và các ngành nhóm B sản xuất tư liệu tiêu dùng. Phương pháp phân loại công nghiệp dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trong việc vận dụng quy luật tái sản xuất mở rộng để xây dựng cơ cấu công nghiệp hợp lý cho mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phát triển kinh tế. - Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, công nghiệp được chia thành 3 nhóm ngành: công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước và khí đốt Phương pháp phân loại này còn có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện cân đối trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, cân đối giữa nguồn nguyên liệu và chế biến nguyên liệu.
Vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp luôn được coi là ngành có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.