Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hoạt động quản lý nhà nước, thông tin là yếu tố trung tâm duy trì sự vận hành của bộ máy quản lý, trong đó văn bản là phương tiện quan trọng nhất nhằm ghi chép, truyền đạt các quyết định quản lý, làm căn cứ kiểm tra, theo dõi hoạt động của cơ quan và là công cụ xây dựng hệ thống pháp luật. Việc soạn thảo và ban hành văn bản tuân thủ đúng trình tự, quy định pháp luật và bảo đảm độ chính xác sẽ quyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III là tổ chức sự nghiệp trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và trụ sở làm việc riêng. Trung tâm có nhiệm vụ trực tiếp quản lý, bảo quản an toàn vĩnh viễn các hồ sơ, tài liệu có giá trị đặc biệt của quốc gia, đồng thời cung cấp thông tin hồi cố phục vụ nhu cầu của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Do tính chất đặc thù đó, việc soạn thảo và ban hành văn bản tại Trung tâm đòi hỏi tính chuẩn mực, chính xác cao độ. Khảo sát thực tế cho thấy, bên cạnh việc chấp hành các quy định pháp luật, công tác này tại Trung tâm vẫn bộc lộ một số tồn tại: văn bản thiếu tính mạch lạc và khả thi, chưa bảo đảm đầy đủ các yếu tố nội dung, quy trình xử lý chưa đồng bộ, còn mắc các lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Tìm hiểu công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu và hệ thống hóa lý luận chung về công tác soạn thảo và ban hành văn bản.
    2. Khảo sát thực trạng công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
    3. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác soạn thảo và ban hành văn bản.
  2. Khảo sát thực trạng soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III về số lượng và chất lượng văn bản ban hành giai đoạn 2013–2017.
  3. Đánh giá ưu điểm, nhược điểm trong công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
  4. Xác định nguyên nhân và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại đơn vị.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
    • Thời gian: Giai đoạn 2013 đến năm 2017. Tác giả không khảo sát năm 2018 do thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 03/2018), số lượng văn bản ba tháng đầu năm còn ít, sổ quản lý văn bản đi chưa in đóng cuốn mà chỉ lưu trên phần mềm; đồng thời giai đoạn 2013–2017 có sự chuyển giao vị trí Giám đốc Trung tâm, tạo điều kiện thuận lợi để đánh giá sự chỉ đạo đối với công tác này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa và hệ thống hóa khung lý luận từ các giáo trình chuyên ngành và quy định pháp luật hiện hành:

  • Khung khái niệm: Sử dụng định nghĩa văn bản theo góc độ hành chính học của Vương Đình Quyền: "Văn bản là vật mang tin được ghi bằng ký hiệu ngôn ngữ nhất định, dùng để chỉ các loại công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức". Phân loại văn bản quản lý nhà nước theo hiệu lực pháp lý (căn cứ Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) thành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính. Văn bản hành chính tiếp tục được chia thành văn bản hành chính cá biệt (Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết) và văn bản hành chính thông thường (gồm 28 loại văn bản có tên loại như Quy chế, Quy định, Thông báo, Kế hoạch, Báo cáo, Tờ trình, Biên bản... và công văn là văn bản không có tên loại).
  • Chức năng và vai trò: Xác định 4 chức năng cơ bản (thông tin, quản lý, pháp lý, văn hóa - xã hội) cùng các chức năng giao tiếp, thống kê, kinh tế; 4 vai trò nòng cốt (bảo đảm thông tin, truyền đạt quyết định quản lý, kiểm tra theo dõi bộ máy, làm công cụ xây dựng pháp luật).
  • Yêu cầu soạn thảo: Hệ thống hóa các yêu cầu về thẩm quyền (hình thức, nội dung), nội dung (tính mục đích, khoa học, khả thi, đại chúng, hợp hiến, hợp pháp, chính xác), thể thức, văn phong hành chính - công vụ và bố cục 3 phần.
  • Khung pháp lý áp dụng: Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10; Nghị định số 33/2002/NĐ-CP; Thông tư số 12/2002/TT-BCA; Nghị định số 110/2004/NĐ-CP; Nghị định số 09/2010/NĐ-CP; Thông tư số 01/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ; Quyết định số 166/QĐ-VTLTNN ngày 28/10/2015 của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; Quyết định số 69/QĐ-TTLTIII ngày 21/3/2014; Quyết định số 135/QĐ-VTLTNN ngày 17/6/2014 và Quyết định số 428/QĐ-TTLTIII ngày 01/9/2015 của Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các giáo trình chuyên ngành (Vương Đình Quyền, Triệu Văn Cường, Lưu Kiếm Thanh, Ngô Sỹ Trung, Bùi Khắc Việt), các tạp chí nghiệp vụ và luận văn liên quan để xây dựng cơ sở lý luận; nghiên cứu các văn bản hành chính do Trung tâm ban hành giai đoạn 2013–2017.
  • Phương pháp khảo sát thực tế: Quan sát quy trình làm việc tại các phòng ban thuộc Trung tâm; khảo sát trực tiếp Sổ quản lý văn bản đi và các văn bản lưu trữ thực tế.
  • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn Trưởng phòng Hành chính - Tổ chức, các cán bộ, công chức, viên chức và chuyên viên văn thư về quy trình, thẩm quyền và tình hình xử lý văn bản tại cơ quan.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thống kê, phân loại số liệu văn bản đi theo từng năm, đối chiếu với quy chuẩn thể thức để nhận xét ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.

Nguồn dữ liệu: Sổ quản lý văn bản đi từ năm 2013 đến năm 2017; các văn bản hành chính lưu tại bộ phận văn thư của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III; các quy chế nội bộ và văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng: văn bản, văn bản quản lý, văn bản quản lý nhà nước và văn bản hành chính. Tác giả phân tích đặc điểm văn bản hành chính: được ban hành bởi mọi cơ quan, tổ chức tham gia quản lý xã hội; thường áp dụng một lần; sử dụng ngôn ngữ hành chính - công vụ; tuân theo trình tự, thủ tục luật định.

Nội dung chương phân định ranh giới giữa văn bản hành chính cá biệt (áp dụng pháp luật giải quyết công việc cụ thể, có tính cưỡng chế) và văn bản hành chính thông thường (chứa đựng thông tin tác nghiệp, điều hành, không có tính chế tài trực tiếp). Chương 1 cũng trình bày 4 chức năng, 4 vai trò và hệ thống các yêu cầu đối với văn bản hành chính. Về quy trình, tác giả chuẩn hóa 4 bước lý thuyết: Bước 1 - Chuẩn bị (phân công, xác định mục đích, tên loại, thu thập xử lý thông tin); Bước 2 - Xây dựng dự thảo (lập đề cương, viết dự thảo, kiểm tra); Bước 3 - Trình duyệt (trách nhiệm kiểm tra nội dung của đơn vị chủ trì, thể thức của văn thư/hành chính, người có thẩm quyền ký); Bước 4 - Hoàn thiện thể thức, làm thủ tục phát hành và lưu trữ (01 bản lưu tại văn thư, 01 bản lưu tại đơn vị soạn thảo).

Chương 2: Thực trạng soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

Chương 2 giới thiệu cơ cấu tổ chức của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III theo Quyết định số 166/QĐ-VTLTNN, gồm Ban Giám đốc (01 Giám đốc, 03 Phó Giám đốc) và 10 phòng chuyên môn: Thu thập và Sưu tầm tài liệu; Chỉnh lý tài liệu; Bảo quản tài liệu; Công bố và Giới thiệu tài liệu; Tin học và Công cụ tra cứu; Phòng Đọc; Tài liệu nghe nhìn; Hành chính - Tổ chức; Kế toán; Bảo vệ và Phòng cháy chữa cháy.

Tác giả thống kê số lượng văn bản hành chính do Trung tâm ban hành trong 5 năm (2013–2017):

Năm Quyết định (cá biệt) Tỷ lệ Quyết định Tờ trình Tỷ lệ Tờ trình Tổng số văn bản
2013 32 5,66% 07 1,24% 565
2014 129 20,44% 15 2,38% 631
2015 184 27,46% 17 2,54% 670
2016 65 10,33% 07 1,11% 629
2017 141 24,61% 10 1,75% 573

Trong tổng số văn bản ban hành, công văn chiếm số lượng lớn nhất (thường trên 350 văn bản/năm, tương đương hơn 50%), tiếp theo là quyết định, báo cáo, thông báo, kế hoạch và các giấy tờ hành chính khác.

Đánh giá chất lượng văn bản tại đơn vị, tác giả ghi nhận Trung tâm ban hành đúng thẩm quyền về hình thức và nội dung theo Quyết định số 428/QĐ-TTLTIII. Tuy nhiên, việc áp dụng thể thức theo Thông tư 01/2011/TT-BNV bộc lộ các sai sót cụ thể qua khảo sát mẫu:

  • Đánh số văn bản: Đánh chung một hệ thống số cho tất cả các loại văn bản; xảy ra hiện tượng đánh trùng số giữa các văn bản khác tên loại và nội dung (như công văn và quyết định cùng mang số 03 hoặc số 07).
  • Quốc hiệu, tiêu ngữ: Độ dài dòng kẻ dưới không chuẩn xác; Quyết định số 52/QĐ-TTLTIII có dòng kẻ dài hơn quy định, trong khi Biên bản số 513/BB-TTLTIII có dòng kẻ ngắn hơn và đặt quá sát dòng chữ.
  • Tên cơ quan ban hành: Khoảng cách và độ dài đường kẻ phân cách chưa có quy định cố định, dẫn đến tình trạng khoảng cách kẻ quá xa như tại Quyết định số 620/QĐ-TTLTIII ngày 15/12/2015.
  • Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành: Một số văn bản trình bày không ngang hàng với số, ký hiệu văn bản (Quyết định số 52/QĐ-TTLTIII, Quyết định số 620/QĐ-TTLTIII).
  • Tên loại và trích yếu nội dung: Biên bản số 513/BB-TTLTIII không có đường kẻ phân cách phía dưới; Quyết định số 52/QĐ-TTLTIII có đường kẻ đặt cách quá xa phần chữ.
  • Đóng dấu cơ quan: Thiếu dấu giáp lai đối với các văn bản có từ 02 trang trở lên, đơn cử như Công văn số 301/TTLTIII-TTST và Công văn số 303/TTLTIII-TTST.
  • Nơi nhận: Công văn số 75/TTLTIII-TTST không có phần Kính gửi ở ô 9a nhưng phần Nơi nhận tại ô 9b vẫn ghi "Như trên"; lỗi căn lề phần kính gửi.
  • Quy trình soạn thảo: Chưa ban hành văn bản quy định độc lập về quy trình soạn thảo và ban hành văn bản hành chính; việc thực hiện phụ thuộc vào các điều khoản trong Quy chế công tác văn thư, lưu trữ (Quyết định số 428/QĐ-TTLTIII).

Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

Chương 3 đề xuất 5 nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện thể chế: Kiến nghị Nhà nước ban hành văn bản quy định cụ thể, thống nhất về quy trình soạn thảo và ban hành văn bản hành chính; kiến nghị Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III xây dựng và ban hành quy chế riêng về quy trình soạn thảo, ban hành văn bản, ban hành hệ thống mẫu văn bản chuẩn hóa và thống nhất danh mục ký hiệu viết tắt của các phòng ban.
  2. Giải pháp về nhân sự: Xác định rõ trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc chỉ đạo, kiểm duyệt; nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, trình độ tin học và ngôn ngữ hành chính cho viên chức được giao nhiệm vụ soạn thảo; gắn trách nhiệm kiểm tra thể thức của Trưởng phòng Hành chính - Tổ chức và cán bộ văn thư.
  3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin: Đầu tư đồng bộ trang thiết bị văn phòng (máy tính, máy in); nâng cấp phần mềm quản lý văn bản đi/đến để tách sổ theo dõi các loại văn bản quan trọng (công văn, quyết định), tránh trùng lặp số thứ tự; từng bước ứng dụng văn bản điện tử và ký số.
  4. Công tác kiểm tra văn bản: Thiết lập cơ chế kiểm tra thường xuyên và đột xuất đối với văn bản trước và sau khi ban hành; tiến hành rà soát định kỳ nhằm phát hiện và đính chính kịp thời các sai sót về thể thức và nội dung.
  5. Nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ: Thực hiện nghiêm túc chế độ lưu văn bản (01 bản tại văn thư, 01 bản tại đơn vị soạn thảo); tổ chức đóng sổ quản lý văn bản đi khoa học, phục vụ việc tra cứu và thống kê.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả khảo sát số liệu: Khóa luận đã thống kê và phân tích biến động của 3.068 văn bản hành chính do Trung tâm ban hành trong 5 năm (2013: 565 văn bản; 2014: 631 văn bản; 2015: 670 văn bản; 2016: 629 văn bản; 2017: 573 văn bản). Số lượng văn bản tăng dần từ năm 2013 đến 2015 (tăng 18,58%), sau đó giảm dần đến năm 2017 (giảm 14,48%). Công văn chiếm tỷ trọng chủ đạo (thường trên 50% mỗi năm); tỷ lệ Quyết định cá biệt dao động từ 5,28% đến 27,46%; Tờ trình chiếm tỷ lệ nhỏ từ 1,00% đến 2,54%.
  • Phát hiện thực tiễn: Chỉ ra các lỗi kỹ thuật cụ thể còn tồn tại trong văn bản thực tế của cơ quan, bao gồm: lỗi trùng số thứ tự văn bản, đường kẻ Quốc hiệu tiêu ngữ và trích yếu không đúng quy cách (Quyết định 52/QĐ-TTLTIII, Biên bản 513/BB-TTLTIII, Quyết định 620/QĐ-TTLTIII), lỗi không đóng dấu giáp lai cho văn bản nhiều trang (Công văn 301/TTLTIII-TTST, 303/TTLTIII-TTST), và lỗi dùng cụm từ "Như trên" khi thiếu thành phần kính gửi (Công văn 75/TTLTIII-TTST).
  • Giải pháp đề xuất: Đưa ra các biện pháp hoàn thiện quy chế nội bộ, tách sổ quản lý văn bản, chuẩn hóa biểu mẫu và quy trình kiểm duyệt nháy trước khi ký ban hành.
  • Đóng góp của đề tài: Khóa luận là công trình khảo sát trực tiếp, toàn diện đầu tiên về công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực chứng giúp lãnh đạo Trung tâm và Phòng Hành chính - Tổ chức hoàn thiện Quy chế công tác văn thư, lưu trữ, nâng cao chất lượng xử lý văn bản hành chính tại đơn vị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Phạm vi khảo sát số liệu dừng lại ở năm 2017, chưa bao quát được các biến động thực tế trong năm 2018 do thời điểm hoàn thành khóa luận vào tháng 03/2018 và văn thư cơ quan chưa in đóng cuốn sổ quản lý văn bản đi của năm 2018. Số liệu khảo sát trong sổ đi chỉ phản ánh một số loại văn bản thông dụng được đăng ký tập trung, chưa phân tách chi tiết toàn bộ 32 loại văn bản hành chính theo thẩm quyền.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu số liệu văn bản từ năm 2018 trở đi; khảo sát thực trạng triển khai văn bản điện tử, chữ ký số và quy trình gửi nhận văn bản trên môi trường mạng tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III theo các quy định mới của Chính phủ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Quản trị văn phòng, Văn thư - Lưu trữ, Quản trị nhân lực, Luật học và Quản lý nhà nước khi nghiên cứu về nghiệp vụ văn bản; cán bộ, viên chức phụ trách công tác văn phòng tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Toàn bộ nội dung Chương 2, đặc biệt là bảng thống kê số lượng văn bản giai đoạn 2013–2017 và phần chỉ ra các sai sót thực tế về thể thức trình bày kèm theo số hiệu văn bản minh chứng cụ thể.
    • Khung quy trình 4 bước và trách nhiệm ký nháy của từng chức danh trong quy trình soạn thảo văn bản hành chính tại Chương 1 và Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III trong giai đoạn nào và tổng số lượng văn bản ban hành là bao nhiêu?
Khóa luận khảo sát trong giai đoạn 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017. Tổng số văn bản hành chính ban hành được ghi nhận là 3.068 văn bản (năm 2013: 565 văn bản; năm 2014: 631 văn bản; năm 2015: 670 văn bản; năm 2016: 629 văn bản; năm 2017: 573 văn bản). Năm 2015 là năm ban hành số lượng văn bản nhiều nhất.

2. Qua khảo sát văn bản thực tế tại Trung tâm, tác giả đã phát hiện những sai phạm cụ thể nào về thể thức và kỹ thuật trình bày?
Tác giả đã phát hiện nhiều lỗi thể thức cụ thể: đường kẻ dưới Quốc hiệu, tiêu ngữ dài hơn quy định hoặc quá ngắn và sát chữ (Quyết định 52/QĐ-TTLTIII, Biên bản 513/BB-TTLTIII); đường kẻ dưới tên cơ quan ban hành quá xa (Quyết định 620/QĐ-TTLTIII); địa danh ngày tháng không thẳng hàng với số ký hiệu; trích yếu thiếu đường kẻ ngang; văn bản từ 2 trang trở lên không đóng dấu giáp lai (Công văn 301/TTLTIII-TTST, 303/TTLTIII-TTST); công văn không ghi kính gửi nhưng nơi nhận vẫn ghi "Như trên" (Công văn 75/TTLTIII-TTST) và tình trạng trùng số văn bản giữa công văn và quyết định.

3. Vì sao tác giả không đưa số liệu của năm 2018 vào phạm vi khảo sát của khóa luận?
Khóa luận được hoàn thành và nộp vào ngày 20/03/2018. Tại thời điểm này, số lượng văn bản ban hành trong 3 tháng đầu năm 2018 còn ít và bộ phận văn thư chưa in đóng "Sổ quản lý văn bản đi" năm 2018 mà vẫn đang theo dõi trực tiếp trên phần mềm, do đó việc thu thập dữ liệu chưa bảo đảm tính đồng bộ để so sánh với các năm trước.

4. Quy định nội bộ nào của Trung tâm trực tiếp điều chỉnh công tác văn thư, lưu trữ và thẩm quyền ban hành văn bản trong giai đoạn nghiên cứu?
Đó là Quyết định số 428/QĐ-TTLTIII ngày 01/9/2015 của Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III về việc ban hành Quy chế công tác văn thư, lưu trữ (kèm theo Phụ lục I về bảng chữ viết tắt và Phụ lục II quy định chi tiết thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản).

5. Cơ chế phân công trách nhiệm ký nháy và ký chính thức văn bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được thực hiện như thế nào?
Trưởng đơn vị chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm về nội dung, thể thức và ký nháy vào cuối nội dung văn bản (sau dấu chấm kết thúc). Trưởng phòng Hành chính - Tổ chức chịu trách nhiệm về thể thức, kỹ thuật trình bày, thủ tục ban hành và ký nháy vào vị trí cuối cùng tại nơi nhận (khi vắng mặt thì ủy quyền cho Phó Trưởng phòng). Người có thẩm quyền ký chính thức là Giám đốc (ký tất cả các văn bản), Phó Giám đốc (ký thay Giám đốc các lĩnh vực được phân công) hoặc Trưởng phòng Hành chính - Tổ chức (ký thừa lệnh các văn bản theo chức năng khi được ủy quyền).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thị Thạch Thảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về văn bản hành chính và công tác soạn thảo, ban hành văn bản trong cơ quan nhà nước. Thông qua việc phân tích thực chứng 3.068 văn bản ban hành tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III giai đoạn 2013–2017, tác giả đã làm rõ thực trạng quản lý, đánh giá ưu điểm và chỉ rõ các lỗi kỹ thuật cụ thể về thể thức cũng như sự thiếu hụt quy chế quy trình riêng biệt. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, nhân sự, trang thiết bị công nghệ thông tin, công tác kiểm tra và lưu trữ, góp phần nâng cao tính chuẩn mực và hiệu quả quản lý hành chính tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.