phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận văn chia làm 4 chƣơng: 4 Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác quản lý thu, nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thu, nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu bằng phƣơng thức điện tử qua hệ thống ngân hàng Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu, nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu bằng phƣơng thức điện tử qua hệ thống ngân hàng 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NỘP THUẾ XUẤT – NHẬP KHẨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu Thu ngân sách nhà nƣớc là việc Nhà nƣớc dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách Nhà nƣớc nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nƣớc. Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nƣớc hàng năm mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu để nhà nƣớc kiểm soát hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa với nƣớc ngoài, bảo hộ sản xuất trong nƣớc và thực hiện các mục tiêu đối ngoài trong từng thời kỳ. Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa những thuế XNK đã nhanh chóng khẳng định đƣợc vai trò, tác dụng to lớn của minh đối với nền kinh tế quốc gia.1 Tình hình nghiên cứu trong nước - Ngân Hàng thế giới (2005) đã đánh giá về một số vấn đề thực trạng của hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) Hải quan, thực trạng thi hành các quy trình thủ tục Hải quan giai đoạn trƣớc năm 2003 và chƣa cập nhật các ứng dụng mới về thông quan điện tử.
Kết quả của Báo cáo này chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, điều kiện thực hiện hiện đại hoá hải quan Việt Nam của nhóm chuyên gia quốc tế. Tuy nhiên, đề tài này chƣa tiến hành nghiên cứu sâu cụ thể về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu hàng hoá, nên giải pháp đƣa ra khá chung chung, mang tính định hƣớng là chính. - Đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Công Bình (2009) đã đƣa ra những vấn đề về giải pháp công nghệ và thực tiễn về Cổng thanh toán điện tử thực hiện trao đổi thông tin giữa Hải quan và các Ngân hàng thƣơng mại. Đề tài nghiên cứu thực trạng hệ thống CNTT và đề xuất hệ thống CNTT kết nối trao đổi thông tin giữa thu NSNN giữa cơ quan Hải quan và Ngân hàng thƣơng mại, Kho bạc nhà nƣớc để hiện đại hóa quy trình thu nộp thuế sử dụng phƣơng thức thanh toán điện tử (e-Payment).
Đây chính là nền tảng của việc hiện đại hóa thu nộp NSNN trong giai đoạn hiện nay. 6 - Trần Thu Trang (2012), Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Trên cơ sở phân tích, đánh giá khái quát các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn áp dụng…Từ đó rút ra những mặt đƣợc cũng nhƣ chƣa đƣợc, tìm ra những nguyên nhân và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam.
- Đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả Lỗ Thị Nhụ (2013) đã nghiên cứu những vấn đề còn tồn tại trong chính sách thuế và quản lý thuế đối với hàng hóa XNK, từ đó đƣa giải pháp đổi mới công tác quản lý thuế phù hợp với yêu cầu cải cách hiện đại hóa hải quan trong giai đoạn hiện nay. - Mai Thị Vân Anh (2015), Giải pháp chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sỹ, Học viện Tìa chính. Tác giả đã đề cập khá chi tiết đến thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; những vấn đề đặt ra đối với công tác chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Một số phƣơng pháp quản lý hải quan chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của hải quan. Tuy nhiên, luận chƣa làm rõ những phƣơng thức quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của ngành Hải quan.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước - Theo Adam Smith (1776) cho rằng có 4 nguyên tắc cơ bản để xây dựng hệ thống thuế hiệu quả: + Thuế phải đƣợc huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cƣ; + Mức thuế và thời hạn thanh toán cần phải đƣợc xác định chính xác; + Thời gian thu thuế phải đƣợc quy định thuận lợi đối với ngƣời nộp thuế; + Các chi phí để tổ chức thu nộp thuế phải thấp nhất.
- Haronori Asakura (2003) đã đƣa ra những kinh nghiệm quản lý thu thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của một số hải quan các nƣớc trên thế giới. Tài liệu này là cơ sở 7 để tác giả đƣa ra các khuyến cáo trong việc hoàn thiện các chính sách với việc quản lý nhà nƣớc trong việc thu thuế XNK hàng hoá của Hải quan Việt Nam trong thời gian tới. - “Báo cáo của Chƣơng trình Columbus” dành cho Hải quan Việt Nam là cẩm nang phản ánh một số vấn đề Hải quan Việt Nam cần phải xem xét theo chuẩn mực chung của WCO. Tài liệu này là một khuyến nghị quan trọng cho ngành Hải quan trong việc đổi mới phƣơng pháp quản lý thuế và quy trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế theo các chuẩn mực chung của quốc tế.
Dƣới nhiều góc độ khác nhau, các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn gần đây đã đi vào phân tích khá toàn diện các nội dung của công tác quản lý thu, nộp thuế XNK. Trong đó đã gợi mở nhiều vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với việc thu, nộp thuế XNK nhƣ: cần phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi và hoàn thiện Luật Quản lý thuế và các văn bản liên quan, áp dụng các phƣơng pháp quản lý hải quan hiện đại nhƣ QLRR, kiểm tra sau thông quan, khai hải quan điện tử… Trong tất cả các tài liệu trên chƣa có tài liệu nào làm rõ đƣợc về mặt lý luận, cũng nhƣ tổng hợp thực tiễn về quản lý việc thu, nộp thuế xuất nhập khẩu hàng hoá bằng phƣơng thức điện tử qua hệ thống ngân hàng thƣơng mại để có những giải pháp, đề xuất một cách có hệ thống đối với lĩnh vực này. Để thực hiện đề tài này, tác giả có kế thừa một số ý tƣởng những tài liệu đã đƣợc công bố trong nƣớc và khảo sát ở nƣớc ngoài để bổ sung cho phần cơ sở lý luận và kinh nghiệm trong nội dung đề tài. Có thể nói luận văn thạc sỹ của tác giả có nội dung không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nƣớc từ trƣớc đến nay.
Những vấn đề cơ bản về thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá 1. Đặc điểm thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Lịch sử phát triển xã hội loài ngƣời đã chứng minh rằng, thuế ra đời, tồn tại và phát triển là đòi hỏi khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc. Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nƣớc thƣờng sử dụng ba hình thức động viên là: quyên góp của dân, vay dân và dùng quyền lực bắt dân phải 8 đóng góp. Trong đó, quyên góp và vay của dân là những hình thức không mang tính ổn định lâu dài, thƣờng chỉ đƣợc sử dụng giới hạn trong những trƣờng hợp đặc biệt.
Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho mục đích công cộng không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tƣợng nộp thuế, Nhà nƣớc dùng quyền lực chính trị buộc các th ể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣ ớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp lu ật quy định. Có rất nhiều các định nghĩa về thuế nhƣ: “Thuế là một khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức quy định, dựa trên mức giá trị tài sản, mức thu nhập, loại hình nghề nghiệp v. “Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” hoặc “Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nƣớc trên cơ sở các văn bản pháp luật do Quốc hội. Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tƣợng nộp”.
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thƣơng mại quốc tế. Thuế xuất nhập khẩu hoặc thuế quan là cách gọi chung của hai loại thuế trong lĩnh vực thƣơng mại quốc tế là một biện pháp tài chính mà các nƣớc dùng để huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc và can thiệp vào quátrình ho ạt động ngoại thƣơng, buôn bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia theo những mục đích nhất định. Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa từ nƣớc ngoài nhập khẩu vào mỗi quốc gia hoặc từ khu chế xuất vào thị trƣờng thuộc lãnh thổ quốc gia đó, còn thuế xuất khẩu đánh vào m ỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc gia hoặc vào các khu ch ế xuất. Thông thƣờng, các nƣớc đều không đánh thuế xuất khẩu để khuyến khích hoạt động xuất khẩu ngoại trừ một số ít mặt hàng là nguyên liệu thô.
Ngƣợc lại, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu đều bị đánh thuế nhập khẩu ngoại trừ một số mặt hàng khuyến khích nhập khẩu. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu có những đặc điểm sau: 9 - Một là: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu.