CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Vai trò của nhà nước trong công tác quản lý đất đai 1. Vai trò của nhà nước trong công tác quản lý đất đai trên thế giới Đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng đối với con người và xã hội, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… Trong lịch sử, con người đã dùng sức mạnh để chiếm hữu, bảo vệ và đầu tư vào đất để phục cho lợi ích của mình. Sở hữu là một phạm trù lịch sử gắn liền với quá trình phát triển của loài người.
Các Mác đã phân tích tiến trình phát triển các hình thái kinh tế - xã hội của loài người trên cơ sở quan hệ sở hữu. Trong chế độ Công xã nguyên thủy, con người chưa hình thành khái niệm sở hữu. Tiếp theo là chế độ Chiếm hữu nô lệ có trọng tâm là sở hữu tư nhân về sức lao động của con người. Chế độ phong kiến có đặc trưng là sở hữu tư nhân về đất đai.
Chế độ Tư bản chủ nghĩa xây dựng trên nền móng của sở hữu tư nhân về tư bản. Chế độ Công sản chủ nghĩa mà chúng ta đang hướng tới có nội dung chủ yếu là xóa bỏ mọi sở hữu tư nhân về các nguồn lực sản xuất chính của nền sản xuất xã hội. Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý, bao gồm ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Trong đó, quyền định đoạt là quyền năng quyết định nhất.
Nếu không có quyền định đoạt thì không thể trở thành quyền sở hữu. Hiện nay trên thế giới, tùy thuộc pháp luật của từng quốc gia, người ta công nhận một số trong các hình thức sở hữu đất đai: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức, sở hữu chung, sở hữu địa phương, sở hữu hỗn hợp, sở hữu tập thể, sở hữu gia đình, sử hữu tư nhân. Các dạng sở hữu trên có những biểu hiện giống nhau hoặc có khác nhau nhưng không nhiều. Ví dụ như sở hữu chung của cộng đồng cư dân của một địa phương và sở hữu địa phương có nhiều thể hiện giống nhau hoặc sở hữu tập thể do các xã viên góp đất vào hợp tác xã nông nghiệp và sở hữu hỗn hợp cũng có nhiều thể hiện giống nhau.
Sự khác nhau còn do pháp luật quy 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định về quyền và nghĩa vụ của từng đối tượng là chủ sở hữu. Không phải pháp luật nhà nước nào cũng công nhận tất các quyền sở hữu nói trên. Nhìn chung, mỗi nước thường chỉ công nhận một số hình thức sở hữu nhất định theo tập quán lịch sử riêng và quan niệm riêng. Hiện nay, nhiều quốc gia không công nhận sở hữu tư nhân về đất đai như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Lào Mianma, Cuba, Mông Cổ.
- Chế độ sở hữu đất đai của nhóm các nước phát triển (Nhóm G7) bao gồm các nước: Anh, Đức, Canađa, Ý, Mỹ, Nhật Bản và Cộng hoà Pháp. Xét về chế độ sở hữu nói chung, tại tất cả các quốc gia G7 đều thừa nhận quyền tư hữu là quyền cơ bản nhất. Xét về chế độ sở hữu đất đai, các nước thuộc nhóm G7 đều thực hiện mô hình sở hữu đất đai đa sở hữu. Đó là vừa thừa nhận sở hữu đất đai của tư nhân và vừa thừa nhận đất đai sở hữu của nhà nước.
- Chế độ sở hữu đất đai của nhóm các nước đang phát triển: chiếm đa số các quốc gia trên thế giới, có trình độ phát triển kinh tế vẫn ở mức trung bình và thấp. Về chế độ chính trị, các nước đang phát triển theo đuổi những mô hình chế độ chính trị hết sức đa dạng. Tuy nhiên, khái quát nhất có thể thấy nổi lên hai loại hình chế độ sở hữu đất đai, đó là chế độ SHTN và chế độ SHNN về đất đai. Chế độ sở hữu đất của một số nước ASEAN STT Tên nước Văn bản luật quy định Hình thức sở hữu 1 Brunây Luật thu hồi đất 1949, Luật đất đai 2000 Tư hữu, Quốc Vương Sở hữu quốc vương Sở hữu tư nhân 2 Campuchia Luật đất đai 2001 Sở hữu chính phủ Sở hữu tập thể Sở hữu nhà nước 3 Đông Timo Quy định của Tổng thống về đất đai 2006 Sở hữu tư nhân Quy định của Chính phủ về quản lý đất Sở hữu nhà nước 4 Indonexia đai 2004 Sở hữu tư nhân 5 Lào Luật đất đai 1997 Sở hữu toàn dân Sở hữu nhà nước 6 Malaixia Luật đất đai 1960 Sở hữu tư nhân 7 Mianma Hiến pháp (điều 18) Sở hữu nhà nước Sở hữu nhà nước 8 Singapore Luật đất đai 1978 Sở hữu tư nhân Sở hữu nhà nước 9 Thái Lan Luật đất đai 2008 Sở hữu tư nhân Hiến pháp 1980; 1992 10 Việt Nam Sở hữu toàn dân Luật đất đai 1988;1993; 2003 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vốn là tài nguyên vô cùng quý giá có tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi quốc gia nên đất đai mang những đặc tính phức tạp về quyền sở hữu.
Do đó, Quản lý đất đai là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống quản lý hành chính nhà nước, cần phải được thực hiện thường xuyên và liên tục. Đối với tất cả các nước, quản lý nhà nước về đất đai là một công cụ quan trọng của hệ thống hành chính. Nhiệm vụ cụ thể quản lý đất đai hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cụ thể hơn, nhiệm vụ đó phụ thuộc vào chủ trương chính trị của nhà nước và mô hình kinh tế được lựa chọn.
Như vậy, mỗi quốc gia xác định nhiệm vụ cụ thể cho quản lý nhà nước về đất đai có khác nhau, đó là những biện pháp cụ thể của công cụ pháp luật, công cụ quy hoạch và công cụ kinh tế. Trong tất cả các chế độ xã hội, kể cả khi thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai thì nhà nước cũng phải tổ chức một hệ thống quản lý nhà nước về đất đai thống nhất. Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về nhiệm vụ của hệ thống quản lý đất đai. Có quốc gia quan tâm tới khía cạnh quản lý đất đai dưới góc độ tài sản, có quốc gia quan tâm chủ yếu tới khía cạnh thuế, có quốc gia lại tập trung vào khía cạnh quy hoạch phát triển… Tuy nhiên, chung quy cũng thể hiện được vai trò của quản lý nhà nước về đất đai là rất quan trọng và cần thiết.
Vai trò đó nhằm quản lý khái quát các mặt sau: - Quản lý về mặt hành chính lãnh thổ mà mỗi thửa đất là một đơn nguyên của hệ thống quản lý, hay nói cách khác đây là quản lý ranh giới thửa đất để xác định phần diện tích mà chủ sở hữu hay người sử dụng được pháp luật thừa nhận về pháp lý, được nhà nước bảo hộ về thực hiện các quyền hợp pháp. - Quản lý về mặt tài sản dân sự đối với đất đai (hoặc quyền sử dụng đất) trong hệ thống đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng trước pháp luật. - Quản lý về mục đích sử dụng đất cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường được xác định trong quy hoạch sử dụng đất. - Quản lý về mặt kinh tế đối với đất đai bao gồm định giá đất, xác định thuế và các loại nghĩa vụ tài chính đối với đất đai.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của nhà nước trong công tác quản lý đất đai ở Việt Nam Chế độ sở hữu về đất đai ở Việt Nam đã trải qua một giai đoạn lịch sử rất phong phú và đa dạng gắn liền với quá trình lịch sử bảo vệ và phát triển đất nước. * Chế độ sở hữu đất đai trong các xã hội phong kiến Lịch sử chế độ sở hữu ruộng đất thời phong kiến ở Việt Nam thực chất là lịch sử thay đổi vị trí giữa hai hình thức sở hữu ruộng đất cơ bản: thứ nhất là sở hữu công – “quốc gia công thổ” gồm đất thuộc sở hữu của nhà nước hoặc thuộc sở hữu của cộng đồng làng xã; thứ hai là sở hữu tư – sở hữu của nông dân cá thể hoặc sở hữu của quý tộc, địa chủ. Phân tích lịch sử về chế độ sở hữu về đất đai trong giai đoạn phong kiến Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau: - Sở hữu công về ruộng đất được hình thành và cũng cố trên cơ sở chế độ công hữu nguyên thuỷ về ruộng đất, chế độ sở hữu này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cũng cố quyền lực cho chính quyền phong kiến, cho sự thống nhất dân tộc và duy trì tính cộng đồng làng xã; - Hình thức sở hữu ruộng đất công của làng xã là một đặc điểm quan trọng xuyên suốt thời kỳ phong kiến trong quan hệ đất đai ở Bắc Bộ và Trung Bộ nước ta; - Nhà nứơc phong kiến ở giai đoạn thịnh trị luân xác lập và cũng cố chế độ sở hữu của nhà nước đối với đất đai; - Trong quá trình phát triển của một nhà nước phong kiến, luôn tồn tại mâu thuẩn giữa chế độ sở hữu của nhà nước phong kiến và chế độ sở hữu tư nhân của địa chủ, quan lại về đất đai.
Nguyên nhân của sự mâu thuẩn này là sự độc quyền phong tặng đất đai và sự quan liêu đi tới suy yếu của bộ máy hành chính phong kiến, sự phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp. - Sở hữu tư nhân lớn vể ruộng đất trong suốt giai đoạn phong kiến Việt Nam tưong đối hạn chế, tiêu biếu nhất là ở thời Nhà Trần. Theo Pie Gourou, lý do là “Trong nước An Nam thời xưa chế độ sở hữu lớn không nhiều bởi vì tổ chức kinh tế không thuận lợi với chế độ đó, bởi vì phong tục xung đột với chế độ đó, bởi vì nhà nước nhìn chế độ đó với con mắt không tốt”. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chế độ sở hữu tư nhân về đất đai luôn thắng thế ở giai đoạn nhà nước phong kiến suy yếu.