Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao hiệu quả nhập khẩu Chương 3: Thực trạng hiệu quả nhập khẩu ván thô từ thị trường Trung Quốc của Công ty Cổ phần Tập đoàn Gỗ Minh Long Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu ván thô từ thị trường Trung Quốc của Công ty Cổ phần Tập đoàn Gỗ Minh Long. 6 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU 2. Cơ sở lý luận chung về hiệu quả 2. Khái niệm về hiệu quả Hiệu quả là một khái niệm rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm kinh tế, xã hội, quản trị,.
Trương Quang Dũng (2017), Giáo trình Quản trị học, Trường Đại học Kinh Tế Tài Chính, hiệu quả là tỷ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra. Hiệu quả cao có nghĩa là đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất. Nếu như người nào đó chấp nhận đạt được mục tiêu bằng bất kỳ giá nào thì có lẽ không cần đến quản trị. Quản trị phải nhắm đến việc thực hiện mục tiêu với hiệu quả cao.
Theo Hoàng Phê (2021), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, hiệu quả là khả năng tạo ra một kết quả mong muốn hoặc khả năng tạo ra sản lượng mong muốn. Khi điều gì đó được coi là hiệu quả, điều đó có nghĩa là nó có một kết quả dự kiến hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc và sống động. Theo Phạm Văn Duẩn (2022), Giáo trình Kinh tế vi mô, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, trong lĩnh vực kinh tế, hiệu quả được hiểu là đạt được mục tiêu kinh tế với chi phí thấp nhất hoặc đạt được kết quả cao nhất với chi phí nhất định. Mục tiêu kinh tế có thể là lợi nhuận, tăng trưởng GDP, giảm thất nghiệp,.
Theo Nguyễn Đình Thọ (2022), Giáo trình Quản trị học, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, trong lĩnh vực quản trị, hiệu quả được hiểu là đạt được mục tiêu quản trị với chi phí thấp nhất hoặc đạt được mục tiêu quản trị với kết quả cao nhất. Mục tiêu quản trị có thể là nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện năng suất lao động,. Nhìn chung, hiệu quả là sự so sánh kết quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào. Sự so sánh đó có thể là sự so sánh tương đối hoặc là so sánh tuyệt đối.
Kết quả đầu ra thường được biểu hiện bằng doanh thu, lợi nhuận. Yếu tố nguồn lực đầu vào là lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả Trong nghiên cứu hiện đại về quản lý doanh nghiệp, hiệu quả thường được xem xét qua nhiều góc độ. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả, và những yếu tố này có thể có một tác động quan trọng đối với thành công tổng thể của một tổ chức hoặc dự án.
Theo Phạm Văn Duẩn (2022), Giáo trình Kinh tế vi mô, Giáo trình Kinh tế vĩ mô Phạm Văn Duẩn, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân và Nguyễn Đình Thọ (2022), Giáo trình Quản trị học, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thành 2 phần: 2. Các nhân tố bên trong Nhân tố mục tiêu: Mục tiêu là trọng tâm quan trọng nhất khi đánh giá hiệu quả của một tổ chức hoặc dự án. Các mục tiêu cần phải được thiết lập một cách rõ ràng và cụ thể để tạo điều kiện cho việc đánh giá hiệu quả.
Mục tiêu cụ thể giúp đo lường kết quả đạt được và đảm bảo sự tập trung vào những gì thực sự quan trọng. Nhân tố nguồn lực: Nguồn lực bao gồm các tài sản quý báu của tổ chức như nhân lực, vật lực, và tài lực. Sự có mặt của nguồn lực đầy đủ và phù hợp sẽ tạo ra một nền tảng cho hiệu quả cao hơn. Nó không chỉ là việc có đủ nguồn lực mà còn là sự quản lý thông minh và sáng tạo của chúng.
Nhân tố quy trình: Quy trình là cách mà tổ chức thực hiện các hoạt động. Quy trình hiệu quả đảm bảo sự tối ưu hóa trong cách tổ chức hoạt động của mình. Chúng giúp đảm bảo rằng mọi công việc được thực hiện theo cách tốt nhất có thể, giúp tạo ra hiệu quả toàn diện. Nhân tố công nghệ: Sử dụng công nghệ hiện đại có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Công nghệ cung cấp các công cụ và tiện ích để tăng cường sự hiệu quả trong việc thực hiện nhiều nhiệm vụ. Nhân tố trình độ quản lý: Trình độ quản lý của nhà quản trị có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động tổ chức. Khả năng lãnh đạo, kỹ năng quản lý, và khả năng đưa ra quyết định có thể tạo ra sự khác biệt quan trọng. Nhân tố sự tham gia của nhân viên: Sự tham gia của nhân viên trong việc ra quyết định và thực hiện công việc đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu 8 quả hoạt động của tổ chức.
Khi nhân viên cảm thấy họ có giọng nói trong quyết định và cam kết vào mục tiêu chung, hiệu quả thường tăng lên. Nhân tố sự hài lòng của khách hàng: Sự hài lòng của khách hàng là một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức. Nếu khách hàng cảm thấy họ đạt được giá trị từ sản phẩm hoặc dịch vụ và họ hài lòng, điều này thường là một chỉ báo tích cực về hiệu quả tổ chức. Các nhân tố bên ngoài Nhân tố điều kiện kinh tế: Tình hình kinh tế là yếu tố trọng yếu tác động đến khả năng của tổ chức trong việc huy động và sử dụng nguồn lực.
Sự biến động trong thị trường, giá cả, và sự thay đổi trong tình hình kinh tế tổng thể có thể tạo ra cơ hội hoặc thách thức đối với tổ chức. Nhân tố chính sách pháp luật: Chính sách pháp luật quy định môi trường hoạt động của tổ chức. Nó có thể tạo ra môi trường thuận lợi hoặc khó khăn, ảnh hưởng đến các quyết định và hành vi của tổ chức. Sự thay đổi trong quy định và chính sách có thể có tác động sâu rộng đến hiệu quả của tổ chức.
Nhân tố điều kiện xã hội: Điều kiện xã hội bao gồm các yếu tố như văn hóa, giá trị, và thị hiếu của khách hàng. Những yếu tố này có tác động đến nhu cầu và sự lựa chọn của khách hàng. Hiểu rõ và phản ánh đúng điều kiện xã hội là quan trọng trong việc đảm bảo rằng tổ chức đáp ứng được mong muốn của khách hàng. Nhân tố cạnh tranh: Tình trạng cạnh tranh trong ngành buộc các tổ chức phải nâng cao hiệu quả hoạt động để tồn tại và phát triển.
Sự cạnh tranh đòi hỏi sự linh hoạt và khả năng thích nghi, đồng thời tạo ra áp lực để tối ưu hóa tất cả các khía cạnh của tổ chức để đạt được hiệu quả cao nhất. Cơ sở lý luận về nhập khẩu 2. Khái niệm về nhập khẩu Theo Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” 9 Theo Lý luận về thương mại quốc tế: “Nhập khẩu là việc quốc gia nào mua hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho người tiêu dùng trong nước.” Theo định nghĩa của từ điển kinh tế học hiện đại của học viện công nghệ Massachuset thì “Hàng nhập khẩu là hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng ở một nước nhưng mua ở nước khác”.
Như vậy nhập khẩu tức là việc mua hàng từ quốc gia khác, từ doanh nghiệp, công ty nước ngoài về tiêu thụ trong nội địa hoặc tái xuất nhằm mục đích lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia. Đặc điểm của nhập khẩu Nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanh trong nước. Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm sau: Thị trường nhập khẩu rất đa dạng: Hàng hóa và dịch vụ có thể được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau. Dựa trên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia khác nhau mà các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để mở rộng, thu hẹp hay thay đổi thị trường nhập khẩu của mình.
Đầu vào (nguồn cung ứng trong đó có nguồn nhập khẩu), đầu ra (khách hàng) của doanh nghiệp rất đa dạng thường thay đổi theo nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Nguồn cung ứng hoặc đầu ra có thể ổn định, tập trung hoặc đa dạng phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh của công ty, khả năng thích nghi và đáp ứng cầu thị trường cũng như biến động của nguồn cung ứng. Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quốc tế và Ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán Thương mại quốc tế. Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú: Giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm, đấu giá, đấu thầu, gia công quốc tế, giao dịch đối lưu, giao dịch tái xuất, … Trong kinh doanh nhập khẩu các bên sử dụng nhiều phương thức thanh toán, việc sử dụng phương thức thanh toán nào là do hai bên tự thỏa thuận được quy định 10 trong điều khoản của hợp đồng và trong kinh doanh nhập khẩu thường sử dụng các ngoại tệ mạnh chủ yếu là USD, Euro để thanh toán.
Vì vậy mà thanh toán trong nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền nội tệ (VND) và ngoại tệ. Hoạt động nhập khẩu liên quan trực tiếp đến yếu tố nước ngoài, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới các quốc gia, có khối lượng lớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và vận chuyển vào nội bộ bằng các xe có trọng tải lớn… Do đó hoạt động nhập khẩu đòi hỏi chi phí vận chuyển lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, một điều bất di bất dịch, hoạt động nhập khẩu chịu ảnh hưởng bởi điều kiện cơ sở giao hàng Incoterms: có nhiều hình thức nhưng phổ biến ở Việt Nam là nhập khẩu theo điều kiện CIF, FOB,. Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên địa bàn rộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu.