Chương 1: Tổng quan về nâng cao hiệu quả nhập khẩu mặt hàng máy xây dựng từ thị trường trung quốc của Công ty Cổ phẩn phát triển Máy Xây Dựng Việt Nam Chương 2: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và nâng cao hiệu quả nhập khẩu trong thương mại quốc tế Chương 3: Thực trạng hiệu quả nhập khẩu mặt hàng máy xây dựng từ thị trường trung quốc của Công ty Cổ phẩn phát triển Máy Xây Dựng Việt Nam Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu mặt hàng máy xây dựng từ thị trường trung quốc của Công ty Cổ phẩn phát triển Máy Xây Dựng Việt Nam 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU 2. Cơ sở lý luận về nhập khẩu 2. Khái niệm về nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu nói chung, và hoạt động nhập khẩu nói riêng, là hoạt động cơ bản trong thương mại ở phạm vi quốc tế. Có từ khi hình thành đến nay có rất nhiều khái niệm về nhập khẩu được đưa ra, điển hình là: Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD), nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ là hàng hoá được bổ sung vào kho vật chất của một quốc gia, bằng cách đưa vào lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó.
Hay theo khoản 1 Điều 28 Luật Thương Mại 2005 quy định “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật". Hiểu một cách đơn giản, nhập khẩu là đến các hoạt động dùng ngoại tệ để mua bán hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài đem về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, hoặc tái xuất khẩu nhằm mục đích thu lợi nhuận, dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá. Nhập khẩu cho phép các quốc gia mua hàng hóa và tài nguyên mà họ không thể tự sản xuất hoặc sản xuất chúng rẻ hơn và hiệu quả hơn so với sản xuất trong nước. Những hàng hóa, dịch vụ có thể được nhập khẩu bởi các cá nhân, công ty hoặc chính phủ, và được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm khác hoặc được bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng.
Đặc điểm của nhập khẩu Hoạt động nhập khẩu có phạm vi toàn cầu, nên nó là một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp, có tổ chức chặt chẽ cả bên trong và bên ngoài. Vậy nên hoạt động nhập khẩu dù đem lại hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng tiềm ẩn những hậu quả khôn lường. Nhập khẩu tuân theo những tập quán, thông lệ quốc tế và địa phương. Nhập khẩu diễn ra trên quy mô rộng cả về thời gian lẫn không gian; diễn ra trong thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài; diễn ra trên phạm vi của một hoặc nhiều 15 quốc gia.
Nhập khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với mục tiêu cuối cùng là đem lại lợi ích cho các quốc gia. Phương thức giao dịch mua rất phong phú: giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm,. Phương thức thanh toán rất đa dạng: hàng đổi hàng, nhờ thu, L/C,. Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh như: USD, bảng Anh,.
Điều kiện cơ sở giao hàng: theo Incoterm 2020 (International Commercial Terms - Các điều khoản thương mại quốc tế) có các điều kiện như CIF, FOB,. Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độ nghiệp vụ Ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin, trình độ quản lý. Có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng hoá, dịch vụ trong hoạt động nhập khẩu nên để đề phong rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng. Thương mại quốc tế liên quan trực tiếp đến mối quan hệ chính trị giữa các nước tham gia vào hoạt động này, vì vậy hoạt động nhập khẩu là cơ hội để các công ty ở các nước khác nhau thiết lập mối quan hệ kinh doanh lâu dài và góp phần phát triển kinh tế đối ngoại.
Như vậy, nó được điều chỉnh bởi luật pháp và chính sách chính trị của mỗi quốc gia. Nhập khẩu là hoạt động được tổ chức, thực hiện với nhiều nhiệm vụ, nhiều khâu khác nhau, thủ tục phức tạp. Chúng cần được nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng và đặt trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt các lợi thế để đạt được hiệu quả cao nhất, kịp thời phục vụ cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng trong nước. Các hình thức nhập khẩu 2.
Nhập khẩu trực tiếp Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập, trong đó các nhà kinh doanh nhập khẩu tuân thủ nghiêm ngặt chính sách, pháp luật và các quy định của quốc gia và quốc tế, trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài nước, tính toán chính xác chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Đây là hoạt động phổ biến nhất và tồn tại lâu đời nhất. Hoạt động nhập khẩu trực tiếp phải được cân nhắc kỹ lưỡng từ khâu tìm hiểu thông tin ban đầu cho đến khi ký kết hợp đồng thương mại, bởi doanh nghiệp phải 16 chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu thị trường, lưu kho, giao hàng, tiêu thụ hàng hóa, các khoản thuế từ kim ngạch nhập khẩu, từ doanh thu,. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt, hợp đồng mua bán trong nước sẽ được ký sau khi hàng hóa đến nơi và doanh nghiệp chỉ cần ký hợp đồng với bên nước ngoài.
Nhập khẩu ủy thác Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nào đó nhưng lại không có quyền tham gia quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp, nên đã uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch quốc tế, để tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Hay có thể nói nhập khẩu uỷ thác tức là việc một doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò là trung gian nhập khẩu cho một hay nhiều doanh nghiệp khác. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với doanh nghiệp nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ theo yêu cầu của bên uỷ thác. Với mỗi lần được ủy thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác thường được hưởng một khoản thù lao trị giá 0,5% đến 1,5% tổng giá trị hợp đồng (phí ủy thác) và phải nộp thuế thu nhập trên nguồn thu này, khi tiến hành nhập khẩu doanh nghiệp nhận uỷ thác chỉ tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không tính vào doanh số và nộp thuế giá trị gia tăng.
Doanh nghiệp nhận ủy thác không cần bỏ vốn hay xin hạn ngạch; không cần nghiên cứu thị trường trước khi nhập khẩu. Họ thay mặt người ủy thác thực hiện các giao dịch đối ngoại; ký kết hợp đồng, làm hóa đơn chứng từ và các thủ tục nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; hay trong những trường hợp thiệt hại, họ sẽ thay người ủy thác để khiếu nại, đòi bồi thường. Khi nhập khẩu uỷ thác thì các doanh nghiệp nhận uỷ thác phải lập 2 hợp đồng: Một hợp đồng ngoại - mua hàng với nước ngoài Một hợp đồng nội - uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác 2. Nhập khẩu liên doanh Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (với ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) để cùng nhau phối hợp kỹ năng, tiền hành giao dịch, đề ra các biện pháp và chủ trương có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, nhằm thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho các bên lãi cùng chia, lỗ cùng chịu.
17 Doanh nghiệp sẽ bớt chịu rủi ro hơn bởi vì khi liên doanh nhập khẩu, mỗi doanh nghiệp tham gia chỉ phải góp một phần vốn nhất định. Việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ tuỳ theo hai bên thoả thuận phân chia dựa trên vốn góp cộng với phần trách nhiệm, quyền hạn mà mỗi bên phải gánh vác. Trong hoạt động này, doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được tính kim ngạch nhập khẩu, mặc dù khi đưa hàng về tiêu thụ thì chỉ tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chỉ chịu thuế doanh thu trên số hàng đó. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp phải thực hiện 2 hợp đồng: Một hợp đồng mua hàng với nước ngoài Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác Có hai hình thức chính là mua bán, thanh toán bằng tiền và thanh toán bằng hàng, hay còn gọi là mua bán đối lưu.
Mua bán bằng tiền là hình thức thông thường và trong phạm vi ở đây cần quan tâm đến hình thức nhập khẩu đối lưu hay đổi hàng. Nhập khẩu tái xuất Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập hàng vào trong nước nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước nào đó nhằm thu lợi nhuận, những hàng nhập này không được qua chế biến ở nước tái xuất. Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu hút 3 nước tham gia: nước xuất khẩu, nước tái xuất, và nước nhập khẩu. Doanh nghiệp ở nước tái xuất phải tính toán chi phí ghép mối bạn hàng xuất và nhập sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động này.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch xuất và nhập, doanh số sẽ được tính trên giá trị hàng xuất do đó phải chịu thuế doanh thu. Việc thanh toán tiền thì phải luôn do người tái xuất thu từ người nhập khẩu và trả cho người xuất khẩu, nhưng hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển thẳng sang nước thứ 3. Nhiều khi người tái xuất còn thu được lợi tức về tiền hàng do thu được nhanh và trả chậm. Doanh nghiệp nước tái xuất phải lập 2 hợp đồng: Một hợp đồng nhập khẩu Một hợp đồng xuất khẩu 2.
Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả nhập khẩu 2. Khái niệm về hiệu quả nhập khẩu Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các 18 nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa những kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao.