chương 1. Từ đó, tác giả tiến hành nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề cần nghiên cứu, trước tiên là hệ thống cơ sở lý luận. Tổng quan về đào tạo 2. Khái niệm Khái niệm đào tạo được trình bày trong nhiều nghiên cứu khác nhau.
Đào tạo là một loại hoạt động được lên kế hoạch, có hệ thống và kết quả giúp nâng cao các kỹ năng, kiến thức và năng lực cần thiết để thực hiện công việc một cách hiệu quả (Gordon, 1992). Nhiều nhà nghiên cứu cũng nêu quan điểm tương đồng nêu trên. David và Robbins (1994) cho rằng đào tạo tác động lên quá trình học tập nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời chú trọng vào nhu cầu của nhân viên giúp nhân viên có các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại. Buckley và Caple (2000) cũng cho rằng, đào tạo là một quá trình có hệ thống giúp con người hiểu cách thức để tăng hiệu quả trong công việc là thay đổi kiến thức, kỹ năng, thái độ thông qua kinh nghiệm học tập.
Theo DeCenzo & Robbins (2000), đào tạo được giải thích như một quá trình kinh nghiệm học tập lâu dài của một cá nhân nhằm tìm kiếm một sự thay đổi để ngày càng nâng cao khả năng thực hiện công việc. Điều này có nghĩa là, việc đào tạo phải được thiết kế liên quan đến hoặc là thay đổi hoặc là nâng cao các kỹ năng, kiến thức, thái độ và hành vi xã hội; nghĩa là liên quan đến tất cả những kiến thức, cách thức làm việc, mối quan hệ và sự tương tác với đồng nghiệp và cấp trên của một người nhân viên. Một số nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn nhân lực và đội ngũ quản lý cần chú trọng công tác đào tạo. Cole (2004) nhấn mạnh nguồn nhân lực là tài nguyên năng động nhất trong tất cả các nguồn tài nguyên thuộc quyền sử dụng của tổ chức và do đó, cần phải được nhà quản trị quan tâm, giải quyết động lực, lãnh đạo, giao tiếp, chuyển dịch cơ cấu lao động, hệ thống thanh toán, đào tạo và phát triển.
Đào tạo là một trong những quy trình trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức bằng 9 cách thu hút và duy trì nhân viên, và quản lý nhân viên một cách hiệu quả (Hamid, 1987). Belcourt và ctg (2000) lại cho rằng: Nhà quản lý cung cấp đào tạo cho nhân viên của họ nhằm đạt được ba mục đích: tăng năng suất và hiệu quả làm việc của nhân viên; đạt được mục tiêu của tổ chức; đầu tư vào nhân viên để đạt được thành công trong hoạt động kinh doanh. Đào tạo là cần thiết không chỉ để tăng năng suất mà còn để thúc đẩy và truyền cảm hứng cho nhân viên bằng cách cho họ biết công việc của họ quan trọng như thế nào và cung cấp cho họ tất cả những thông tin cần thiết để thực hiện công việc của mình (Anonymous, 1998). Monappa & Saiyadain (2008), xác định đào tạo là “các hoạt động giảng dạy, học tập với mục đích chính là giúp các thành viên của một tổ chức tiếp thu và áp dụng các kiến thức, kỹ năng, khả năng và thái độ cần thiết của tổ chức đó”.
Đó là hành động của nâng cao kiến thức và kỹ năng của người lao động để thực hiện một công việc cụ thể. Theo Nguyễn Hữu Thân (2008), đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay các kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện hành. Đào tạo được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành, là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Như vậy, khái niệm đào tạo được trình bày trong nhiều nghiên cứu khác nhau.
Với nội dung đề tài nghiên cứu, có thể định nghĩa đào tạo giúp người lao động nâng cao các kiến thức, đạt được kỹ năng cần thiết, làm giảm sai sót, làm tăng sự tự tin để họ có động lực làm việc và đạt được hiệu quả làm việc. Mục đích và vai trò của đào tạo Theo Hà Văn Hội (2006), mục tiêu chung của đào tạo là nhằm sử dụng cao nhất nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp qua việc giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn nghề nghiệp của mình đồng thời thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình tự giác hơn, có động cơ làm việc tốt hơn và nâng cao khả năng thích ứng của họ trong tương lai. 10 Đào tạo là một công cụ quan trọng bắt buộc đối với các tổ chức để cải tổ hoạt động của tất cả các nhân viên nhằm giúp tổ chức tăng trưởng và thành công. Nó có lợi cho cả người lao động và người lao động của một tổ chức.
Các doanh nghiệp có thể phát triển và nâng cao chất lượng của các nhân viên hiện tại bằng cách đào tạo và phát triển toàn diện. Đào tạo là cần thiết không chỉ để tăng năng suất mà còn thúc đẩy và truyền cảm hứng cho nhân viên bằng cách cho họ biết tầm quan trọng của công việc và cung cấp tất cả thông tin liên quan đến công việc (Anonymous, 1998). Những lợi ích chung từ việc đào tạo là: sự hài lòng, tinh thần, động lực tăng lên, tăng hiệu quả trong quy trình, kết quả là lợi ích tài chính, tăng khả năng áp dụng phương pháp, công nghệ mới, đổi mới chiến lược sản phẩm, v. Đối với doanh nghiệp: Nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Giúp các nhà quản trị cập nhật các phương pháp quản lý mới phù hợp với quy trình công nghệ, kỹ thuật và môi trường kinh doanh. Giúp các nhà quản trị giải quyết được các xung đột giữa các nhân viên, gia tăng tinh thần trao đổi học hỏi lẫn nhau, tăng khả năng làm việc nhóm và giúp họ hiểu nhau hơn. Giúp cho các nhân viên mới trao dồi kiến thức và kỹ năng để họ có thể nhanh chóng thích ứng với môi trường và công việc mới. Đào tạo đội ngũ chuyên môn, lành nghề nhằm tạo cơ hội cho họ có thể thăng tiến hơn trong tương lai.
Đối với người lao động: Tạo ra tính chuyên nghiệp và gắn bó giữa nhân viên và công ty. Giúp cho nhân viên làm việc tốt hơn đặc biệt đối với các nhân viên chưa lành nghề và những nhân viên mới hoặc nhân viên mới chuyển bộ phận. Cập nhật các kiến thức mới cho họ khi có sự thay đổi về công nghệ và qui trình công việc. 11 Đáp ứng kỳ vọng trao dồi học hỏi và phát triển của các nhân viên tiềm năng, qua đó khuyến khích họ làm việc hăng say và tích cực hơn, đạt được nhiều thành tích hơn, làm những công việc có tính thách thức hơn và có nhiều cơ hội thăng tiến hơn.
Tạo cho nhân viên có cách nhìn nhận vấn đề, lối tư duy trong công việc nhằm phát huy tính sáng tạo của họ trong công việc. Để xây dựng năng lực cho nhân viên đáp ứng được các yêu cầu của thời kỳ mới, yếu tố đào tạo cần được tổ chức quan tâm đúng mức để phát triển tài sản trí tuệ của mình nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Các hình thức đào tạo Theo Hà Văn Hội (2006), đào tạo được phân loại dưới các hình thức sau: Theo định hướng nội dung đào tạo, bao gồm: đào tạo định hướng công việc và đào tạo định hướng doanh nghiệp. Đào tạo định hướng công việc: là hình thức đào tạo về kỹ năng thực hiện một loại công việc nhất định, nhân viên có thể sử dụng kỹ năng này để làm việc trong những doanh nghiệp khác nhau.
Đào tạo định hướng doanh nghiệp: là hình thức đào tạo về các kỹ năng, cách thức, phương pháp làm việc điển hình trong một doanh nghiệp nhất định. Khi nhân viên chuyển sang doanh nghiệp khác có khi sẽ không áp dụng kỹ năng đào tạo đó nữa. Theo mục đích của nội dung đào tạo, bao gồm: Đào tạo, hướng dẫn công việc cho nhân viên nhằm cung cấp các thông tin, kiến thức mới và các chỉ dẫn cho nhân viên mới tuyển về công việc và doanh nghiệp, giúp cho nhân viên mới nhanh chóng thích nghi với điều kiện, cách thức làm việc trong doanh nghiệp. Đào tạo, huấn luyện kỹ năng nhằm giúp cho nhân viên có trình độ lành nghề và các kỹ năng phù hợp để thực hiện công viêc theo yêu cầu.
Đào tạo kỹ thuật an toàn lao động nhằm giúp cho nhân viên biết cách thực hiện công việc một cách an toàn tránh các rủi ro có thể xảy ra. Việc đào tạo này là bắt 12 buộc và nhân viên phải tham dự các khóa học đầy đủ và đảm bảo ký tên vào sổ an toàn lao động trước khi làm việc. Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật giúp cho đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật được cập nhật kiến thức và kỹ năng mới, nó thường được tổ chức định kỳ. Đào tạo và phát triển các năng lực quản trị giúp cho nhà quản trị tiếp cận được các phương thức làm việc mới, nâng cao năng lực thực hành và kinh nghiệm tổ chức quản lý.
Chương trình thường chú trọng vào các kỹ năng quản lý, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phân tích và ra quyết định. Theo cách thức tổ chức, bao gồm: đào tạo chính quy, đào tạo tại chức, lớp cạnh xí nghiệp và kèm cặp tại chỗ. Đào tạo chính quy: học viên được đi đào tạo mà không phải thực hiện bất kỳ công việc chuyên môn nào của doanh nghiệp nên thời gian được đi đào tạo ngắn nhưng đạt được chất lượng cao hơn so với các hình thức đào tạo khác. Nhưng số lượng người có thể tham gia chương trình này thường rất ít.
Đào tạo tại chức: dành cho đối tượng vừa làm vừa học. Thời gian đào tạo có thể là ngoài giờ làm việc hoặc một số buổi trong giờ làm việc như vào các buổi tối, hoặc một số buổi trong tuần, v. tùy vào điều kiện của từng doanh nghiệp mà thực hiện. Lớp cạnh xí nghiệp dành đào tạo các nhân viên mới của các doanh nghiệp lớn.
Họ có cơ sở đào tạo riêng, chuyên đào tạo các ngành nghề phổ biến, và qua chương trình đó họ tuyển một số học viên xuất sắc vào làm việc cho doanh nghiệp. Học viên sẽ vừa học lý thuyết tại lớp vừa được thực hành tại doanh nghiệp. Hình thức đào tạo này rất hiệu quả học viên vừa học lý thuyết vừa vận dụng vào thực tế, thời gian đào tạo ngắn, chi phí đào tạo thấp.