Chương 1 - tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp Chương 2 — Phương pháp nghiên cứu Chương 3 — Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH ERICSSON Việt Nam Chương 4 — Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Ericsson tại Việt Nam. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU, CƠ SỞ LÝ LUAN VE HIEU QUA KINH DOANH TRONG DOANH NGHIEP 1.1 Tổng quan dé tài nghiên cứu 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài a. Các công trình nghiên cứu trong nước Từ khi nền kinh tế chuyên sang cơ chế thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tô chức thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp đã rất quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đã có một số cuộc hội thảo, công trình nghiên cứu và các bài viết trên các tạp chí đề cập về vấn đề này.
Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thương mại như: Luận án tiễn sĩ của tác giảN guyén Thi Minh An với dé tài “Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu qua kinh doanh của Tổng Công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam” (2003), luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tuan Anh với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn vận tải Duyên Hải” (2005), luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà với đề tài “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ trên địa bản tỉnh Quảng Nam-Da Nẵng” (1998), luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Quang Đoàn với đề tài “ Hoàn thiện chiến lược kinh doanh của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam” (2005). Nguyễn Thị Thanh Thủy (2009), “Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Thực phẩm QVD”. Tác giả phân tích doanh thu, chi phí, lợi nhuận năm 2006 đến 2008. Đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Đề tai sử dụng phương pháp, phương pháp thay thé liên hoàn dé phân tích. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Theo Carter, C. (2015) trong nghiên cứu: ‘Toward the theory of the supply chain’. Mục tiêu của công ty là tăng hiệu qua và sản xuất thì điều quan trọng là phải đảm bảo rằng tất cả các cộng sự trong công ty đều tham gia vào quá trình cải tiến.
Điều đó có nghĩa là chuỗi cung ứng nên được quản lý như một hệ thong duy nhất. (2017) trong nghiên cứu: ‘Organizational commitment, job satisfaction and attitudes toward organizational change: A study in the local government’. Nghiên cứu cho thấy sự hai long và cam kết với công việc của nhân viên có thê liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của công ty. Hơn nữa, nó gợi ý rằng mức độ cống hiến cao của người lao động có thé nâng cao thái độ của họ đối với sự thay đổi của tô chức, khiến họ trở nên linh hoạt và dễ chấp nhận hơn, cũng như cho phép họ thực hiện các cách tiếp cận sáng tạo đối với nhiệm vụ của mình.
Nó có thê làm tăng hiệu quả và năng suất của nhân viên trong môi trường thay đổi và giảm tỷ lệ nghỉ việc. Hơn nữa, một môi trường làm việc tích cực có thể góp phần nâng cao chất lượng của sản phâm hoặc dich vụ, điều này rất quan trọng đối với tat cả các công ty tham gia vào chuỗi cung ứng. Nêu một tô chức thừa nhận nhu câu của nhân viên và cung câp cho họ các cơ hội phát triên, điêu đó sẽ nâng cao cam kêt của họ. Mặc dù việc thiệt lập một môi trường làm việc tích cực có thê quan trọng hơn đôi với các công ty ở cuôi chuỗi cung ứng, nhưng tat cả các công ty phải coi hành động đó là một cách cải tiến.2 Kết quả nghiên cứu đạt được và khoảng tréng cần nghiên cứu Phần lớn các công tình nghiên cứu trên đã hệ thống được cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh, khai thác, thu hút vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Ericsson Việt Nam, do đó tác giả chọn đề tài Hiệu quả kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Ericsson Việt Nam làm nghiên cứu. Với mục đích Phân tích doanh thu, lợi nhuận, chi phí và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho công ty tầm nhìn đến năm 2030. Tìm ra các biện pháp xác thực để tăng cường các hoạt động kinh doanh và quan lý doanh nghiệp, nhằm huy động mọi kha năng về tiền vốn, lao động, đất dai,. vào quá trình sản xuất kinh doanh, nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích hiệu quả kinh doanh còn căn cứ quan trọng phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, các nhà quản trị sẽ đưa ra những quyết định về chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn 1.2 Cơ sở lý luận hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Theo P. Nordhaus thì: “Hiệu qua sản xuất diễn ra khi xã hội không thé tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”2.
Thực chat của quan điểm nay đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu qua các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bồ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. Có thé nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thê có mức hiệu quả nào cao hơn nữa. Với quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”3.
Trong quan điểm này nhà kinh tế người Anh đã đánh đồng hiệu quả và kết quả mà thật ra giữa chúng có sự khác biệt. Theo ông thì các mức chi phí khác nhau mà mang lại cùng một kết quả thì có hiệu quả như nhau. Như vậy Adam Smith mới chỉ quan tâm dén kêt quả dau ra mà chưa quan tâm đên các yêu tô dau vào. Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được va chi phi bỏ ra dé có được kết quả đó.
Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lẫy kết quả tinh theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”4. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế. Hiệu quả kinh doanh = Kết quả kinh doanh đạt được / Chi phí bỏ ra dé đạt được kết quả đó Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính băng đơn vị giá tri.
Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vi hiện vật (chiếc, kg.) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vi thiết bị, nguyên vật liệu.) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật”5, “Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chỉ ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị”6 và “Dé xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành ty lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tổ đầu vào tinh bằng tiền”?. Khái niệm hiệu quả kinh tế tính băng đơn vi hiện vat của hai ông chính là nang suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí. Theo cuốn giáo trình Kinh tế thương mại dịch vụ - NXB Thống Kê 1998, có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một quá trình sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực dé đạt được mục tiêu xác định”.
So với các quan điểm trên thì quan điểm này phản ánh tốt trình độ lợi dụng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong mọi điều kiện biến đổi. Cũng theo quan điểm này thì có thể xác định được hiệu quả sản xuất kinh doanh trong mọi điều kiện biến động. Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực dé đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chỉ phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Với khái niệm tác giả đưa ra thì theo quan điểm của tác giả hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo lường theo cả tương đối và tuyệt đối.
Hiệu quả có thể được mô tả theo công thức: = Dang hiệu số (kết quả tuyệt đối) Hiệu quả kinh doanh = Kết quả dau ra — Chi phí đầu vào = Dạng phân số (hiệu số tương đối) Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Chi phí đầu vào Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế — xã hội có mối quan hệ tác động ảnh hưởng lẫn nhau, vì vậy hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp cần được phân tích, đánh giá một cách toàn diện, cả về mặt định tính lẫn mặt định lượng, cả vê không gian và thời gian. — Xét về mặt định tính, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thé hiện ở những nỗ lực đóng góp của doanh nghiệp vào sự nghiệp phát triển kinh tế. — Xét về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là đại lượng biểu diễn mối tương quan giữa kết qua thu được trong hoạt động kinh doanh với chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.