Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng về hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng Ba Vì. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng Ba Vì. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.
Khái niệm, nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất.
Vậy hiệu quả kinh doanh là gì? Có tác giả cho rằng: hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá [2]. Quan điểm này đến nay không còn phù hợp nữa. Trước hết, quan điểm này đã đồng nhất hiệu quả kinh doanh với kết quả kinh doanh. Theo quan điểm này, chi phí kinh doanh không được đề cập đến do vậy nếu kết quả thu được trong hai kỳ kinh doanh như nhau thì hoạt động kinh doanh ở hai kỳ kinh doanh ấy cùng đạt được một mức hiệu quả.
Mặt khác, thực tế cho thấy, doanh thu của doanh nghiệp có thể tăng lên nếu chi phí cho đầu tư các nguồn lực đưa vào kinh doanh tăng lên và do đó nếu tốc độ tăng của doanh thu nhỏ hơn tốc độ tăng của chi phí thì trong một số trường hợp, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị âm, doanh nghiệp bị thua lỗ. Một số tài liệu lại cho rằng: hiệu quả kinh doanh chính là phần chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó[17]. Quan điểm này đã gắn kết được kết quả thu được với chi phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (các chi phí). Tuy nhiên, kết quả và chi phí là những đại lượng luôn vận động, vì vậy quan điểm này còn bộc lộ nhiều hạn chế do chưa biểu hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí.
Ngoài ra, một số tác giả lại đồng nhất định nghĩa: hiệu quả kinh doanh là đại lượng được đo bằng thương số giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí [3]]. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh được xem xét 6 thông qua các chi tiêu tương đối. Khắc phục được hạn chế của các quan điểm trước đó, quan điểm này đã phán ánh mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, phản ánh sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, đặc biệt phản ánh được sự tiến bộ của hoạt động kinh doanh trong kỳ thực hiện so với các kỳ trước đó. Tuy vậy, nhược điểm lớn nhất của định nghĩa này là doanh nghiệp không đánh giá được hiệu quả kinh doanh trong kỳ thực hiện do không xét đến mức độ tuyệt đối của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh.
Theo đó, phần tăng của doanh thu có thể lớn hơn rất nhiều so với phần tăng của chi phí nhưng chưa thể kết luận rằng doanh nghiệp thu được lợi nhuận. Cũng có một số tác giả cho rằng: hiệu quả kinh doanh phải phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh [11]. Quan điểm này đã chú ý đến sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, mối quan hệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó. Mặc dù vậy, tác giả đưa ra quan điểm này chưa chỉ ra hiệu quả kinh doanh được đánh giá thông qua chỉ tiêu tuyệt đối hay tương đối.
Mỗi quan điểm về hiệu quả kinh doanh đều chứa đựng những ưu nhược điểm và chưa hoàn chỉnh. Qua các quan điểm trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa đầy đủ về hiệu quả kinh doanh như sau: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh; trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức độ cao nhất các mục tiêu kinh tế – xã hội với mức chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh được biểu hiện bằng chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp [10]. Đây là mục tiêu số một, nó chi phối toàn bộ quá trình kinh doanh.
Nhiệm vụ chủ yếu của phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp là đánh giá chung về hiệu quả kinh doanh của từng bộ phận và chung cho toàn doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực kinh doanh, đánh giá hiệu quả cuối cùng của kinh doanh thông qua chỉ tiêu lợi nhuận. Trên cơ sở đó có các biện pháp nhằm tăng hiệu quả kinh doanh. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Khi phân tích một vấn đề nào người ta cũng đặt trong một hoàn cảnh cụ thể.
Đối với phân tích hoạt động kinh doanh, khi phân tích, đánh giá các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp cần xem xét gắn liền với thời gian, không gian, môi trường hoạt động trong quá trình nghiên cứu. Như ta đã biết, trong mô hình kinh tế T-H-T‟, khi bỏ ra một đồng vốn ban đầu nhằm đầu tư cho những yếu tố đầu vào, trải qua quá trình sản xuất doanh nghiệp luôn mong từ đồng vốn T ban đầu sẽ trở thành đồng T‟ với giá trị cao hơn giá trị đầu tư ban đầu. Bản chất của hiệu quả kinh doanh cũng vậy, đó là sự so sánh giữa các yếu tố đầu vào với lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh. Nó được phản ảnh thông qua tình hình sử dụng các nguồn lực của DN nhằm khai thác tối đa lợi nhuận của DN.
Các kết quả được tổng hợp, phân tích từ hiệu quả kinh doanh là chứng cứ, cơ sở khoa học để đánh giá trình độ quản lý và kế hoạch, quyết định tương lai [12]. Tùy thuộc vào môi trường phân tích mà độ chính xác của các chỉ tiêu đánh giá lệch chuẩn so với kết quả thực tế. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh được khái quát và thể hiện thông qua hai công thức hiệu quả đạt được (dạng thuận) và khả năng đạt được (dạng nghịch) Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện hiệu quả dạng thuận: Hiệu quả kinh doanh = Công thức chỉ ra: một đồng yếu tố đầu vào (chi phí trong quá trình sản xuấ kinh doanh như vốn, nhân công, nguyên vật liệu.) tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra (lợi nhuận, doanh thu. trong một kì kinh doanh).
Chỉ tiêu từ công thức này cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và chiến lược sản xuất của doanh nghiệp đúng đắn và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp. Tất cả doanh nghiệp khi hoạt động trên thị trường luôn yêu cầu kết quả đầu ra cao với yếu tố đầu vào thấp nhất nhằm thu được lợi ích từ chênh lệch tạo lợi nhuận trong quá trình vận hành DN. 8 Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện khả năng dạng nghịch: Hiệu quả kinh doanh = Công thức này cho biết: một đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận,. thì cần bao nhiêu đồng chi phí đầu vào.
Kết quả của công thức này tỷ lệ nghịch với công thức trên. Chỉ tiêu công thức dạng nghịch càng thấp chứng tỏ DN kiểm soát chi phí tốt, lợi nhuận cao, hiệu quả kinh doanh cao. Từ kết quả đánh giá trên, nhà quản trị đánh giá được chất lượng hoạt động sản xuấ kinh doanh, so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ nhằm phản ảnh đúng nguồn lực tiềm tàng để từ đó nâng cao hiệu quả. Thực tế cho thấy, khi nghiên cứu mối tương quan giữa kết quả đầu ra với các chi phí đầu vào, DN luôn gặp khó khăn và kết quả nghiên cứu chỉ mang tính tương đối với chỉ tiêu kết quả và chi phí phức tạp, rất khó đánh giá chính xác.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, DN nào cũng phải chịu sự ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau. Phân loại hiệu quả kinh doanh Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh phía trước thông qua mức độ biến động và thay đổi của vốn, tài sản như khả năng quay vòng vốn, hàng tồn kho, vòng quay tài sản ngắn hạn. Nhóm chỉ tiêu này quan tâm đến những hoạt động kinh doanh trong quá trình hoạt động theo sát bằng những con số trên sổ sách kế toán. Hoạt động này diễn ra trong suốt quá trình kinh doanh và thể hiện đầy đủ trạng thái sản xuất của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh sau cùng đó là những chỉ tiêu sinh lời như tỷ suất lời tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời doanh thu (ROS). Nhóm chỉ tiêu này đánh giá những số liệu cuối cùng trên sổ sách kế toán tài chính mà không quan tâm đến quá trình kinh doanh diễn ra như thế nào trong suốt chu kỳ kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào kết quả kinh doanh do kết quả kinh doanh hình thành. Bởi vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh, DN thường xem xét qua các số liệu tĩnh thể hiện trên sổ sách kết hợp với các yếu tố bên ngoài để đánh 9 giá đúng nhất về tình hình DN, từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.
Trên thực tế có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh. Phân loại hiệu quả kinh doanh giúp nhà quản trị dễ dàng quản lý và nâng cao hiệu quả. Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau và dưới đây là một số tiêu thức phân loại thường gặp: - Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và hiệu quả kinh doanh tương đối Căn cứ theo khía cạnh kết quả, hiệu quả kinh doanh được chia thành: + Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả cho từng phương án kinh doanh, cho từng DN, từng thời kì kinh doanh. Nó được tính toán bằng cách xác định mức lợi ích thu được với chi phí bỏ ra.
+ Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp.