CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về hiệu quả kinh doanh hoạt động lữ hành 1. Hiệu quả Hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả mong muốn hoặc khả năng sản xuất ra sản lượng mong muốn. Khi cái gì đó được coi là có hiệu quả, nó có nghĩa là nó có một kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sinh động.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh của công ty là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân tài vật lực của công ty. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, như: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động,… 1. Kinh doanh lữ hành Kinh doanh lữ hành (Tour Operators business): Là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì lữ hành bao gồm tất cả những hoạt động di chuyển của con người, cũng như những hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì người ta giới hạn hoạt động lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch trọn gói. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp này thì ta có thể định nghĩa sau đây về kinh doanh lữ hành của Tổng cục Du lịch Việt Nam 5 1. Hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ hành Hiệu quả kinh doanh lữ hành là khả năng mức độ sử dụng các yếu tố đầu vào và tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành là đạt được doanh thu, lợi nhuận cao nhất với mức chi phí thấp. Trong đó bao gồm các yếu tố đầu vào là cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn sản xuất kinh doanh và lao động. Hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội như tạo công ăn việc làm trong phạm vi xã hội, hoặc từng khu vực, nâng cao mức sống, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân. Hiệu quả xã hội là chỉ tiêu phản ánh mức độ ảnh hưởng một cách kết quả đạt được đến xã hội và môi trường.
Là sự tác động tiêu cực hay tích cực của các hoạt động của các con người, trong đó có hoạt động kinh tế đối với xã hội và môi trường. Hiệu quả kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả ngay trong mỗi phương án kinh doanh cũng như lường trước những diễn biến phức tạp của thị trường. Nói cách khác, vấn đề hiệu quả luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Hiệu quả có thể hiểu một cách chung nhất là một chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết để tham gia vào các hoạt động để đạt được mục đích nhất định của mỗi người.
Về cơ bản, hiệu quả được phản ánh trên hai mặt là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Sự thống nhất giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội đã tạo ra sự tương tác thúc đẩy lẫn nhau. Việc thực hiện hiệu quả xã hội như việc cải tạo điều kiện 6 sống, cải tạo điều kiện làm việc sẽ tạo ra những năng suất lao động cao và từ đó thúc đẩy hiệu quả kinh tế tăng lên.
Chương trình du lịch - Theo cuốn “từ điển quản lý du lịch khách sạn và nhà hàng”(2015): chương trình du lịch trọn gói (Inclsive Tour) là các chuyến đi du lịch trọn gói, giá của chương trình du lịch bao gồm : vận chuyển, khách sạn, ăn uống…và mức giá này rẻ hơn so với mua riêng lẻ từng dịch vụ - Theo quy định của Tổng cục du lịch Việt Nam trong quy chế quản lý lữ hành (2017): chương trình du lịch (tour program) là lịch trình của chuyến du lịch bao gồm lịch trình từng buổi, từng ngày, hạng khách sạn lưu trú, loại phương tiện vật chuyển, giá bán chương trình, các dịch vụ miễn phí… - Theo tập thể giáo viên khoa du lịch – khách sạn, Đại học kinh tế quốc dân (2015): Các chương trình du lịch trọn gói là những nguyên mẫu để căn cứ vào đó để người ta tổ chức các chuyến du lịch với mức giá đã được xác định trước. Nội dung của chương trình thể hiện lịch trình thực hiện chi tiết các hoạt động từ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thăm quan…Mức giá của chương trình bao gồm hầu hết các dịch vụ hàng hoá phát sinh trong quá trình thực hiện du lịch. Khách du lịch Theo định nghĩa của Hội nghị du lịch quốc tế về du lịch ở Hà Lan 1989: “Khách du lịch quốc tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian nhiều nhất là 3 tháng nếu trên 3 tháng, phải được cấp giấy phép gia hạn. Du lịch Outbound nói về chuyến du lịch dành cho người hiện đang ở quốc gia Khách In bound là khách quốc tế từ nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
Khách du lịch Outbound chính là những người cùng xuất phát từ quốc gia sở tại, đi ra nước ngoài để du lịch. Họ có thể là người mang quốc tịch của quốc gia sở tại hoặc có thể là người nước ngoài đến làm việc và sinh sống ở quốc gia sở tại tham gia chuyến du lịch ra nước ngoài. Nội dung hoạt động kinh doanh lữ hành Hoạt động chủ yếu của công ty lữ hành là kinh doanh các chương trình du lịch. Quá trình kinh doanh một chương trình du lịch gồm các giai đoạn sau: • Xây dựng chương trình du lịch.
Chương trình du lịch được xây dựng theo quy trình gồm các bước sau: - Nghiên cứu nhu cầu thị trường (khách du lịch) - Nghiên cứu khả năng đáp ứng: tài nguyên, các nhà cung cấp du lịch,mức độ cạnh tranh trên thị trường - Xác định khả năng và vị trí của công ty trên thị trường - Xây dựng mục đích, ý tưởng của chương trình du lịch - Giới hạn quý thơì gian và mức giá tối đa - Xây dựng tuyến hành trình cơ bản, bao gồm những điểm du lịch chủ yếu bắt buộc của chương trình - Xây dựng phương án vận chuyển - Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống - Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung tuyến hành trình, chi tiết hoá chương trình với những hoạt động thăm quan giải trí - Xác định giá thành và giá bán của chương trình - Xây dựng những quy định của chương trình du lịch Không phải bất cứ khi nào xây dựng một chương trình du lịch trọn gói cũng phải lần lượt trải qua tất cả các bước trên đây • Giá chương trình du lịch. Bao gồm : * Giá thành chương trình: Giá thành của chương trình du lịch bao gồm toàn bộ những chi phí thực sự mà công ty lữ hành phải chi trả để tiến hành thực hiện các chương trình du lịch. Người ta nhóm toàn bộ các chi phí vào hai loại cơ bản : +Chi phí biến đổi tính cho một khách du lịch, bao gồm chi phí của tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ mà đơn giá của chúng được quy định cho từng khách. 8 Đây thường là các chi phí gắn liên trực tiếp với sự tiêu dùng riêng biệt của từng khách du lịch.
+ Các chi phí cố định tính cho cả đoàn. Bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ mà đơn giá của chúng được xác định cho cả đoàn không phụ thuộc một cách tương đối vào số khách trong đoàn. nhóm này gồm các chi phí mà mọi thành viên trong đoàn đèu tiêu dùng chung, không bóc tách được cho từng thành viên một cách riêng rẻ * Giá bán chương trình: Không có nguyên tắc nào gọi là nguyên tắc chuẩn mực để tính giá thành khi ấn định giá chương trình. Tuy nhiên khi tính giá chương trình, người ta thường dựa vào những yếu tố sau: - Dựa vào những con số ròng, không phải con số gộp để tránh tính lãi ròng hai lần, tránh đổi giá lên cao làm khó khăn sản phẩm Giá ròng = Giá gộp - % hoa hồng cho đại lý - Dựa vào con số khách đăng ký ít nhất chứ không phải nhiều nhất - Phần lấn thu nhập là từ khoản bổ sung chứ không phải từ tiền hoa hồng Giá bán chương trình = Giá thành + khoản bổ sung - Khoản bổ sung từ 10 % - 40 %, nếu chương trình độc đáo không có đối thủ cạnh tranh thì giá bổ sung sẽ cao.
- Giá phổ biến trên thị trường - Mục tiêu của công ty - Vai trò khả năng của công ty trên thị trường • Tổ chức bán chương trình Khi đã xây dựng chương trình và tính giá thi bước tiếp theo là tổ chức bán chương trình đó. Để bán được chúng ta phải chiêu thị và đàm phán để bán sản phẩm. Chiêu thị là một trong bốn yếu tố của Maketing-mix nhằm hỗ trợ cho việc bán hàng. Muốn chiêu thị đạt hiệu quả phải có tính cách liên tục, tập chung và phối hợp.
Trong du lịch, chiều thị có ba lĩnh vực cần nghiên cứu - Thông tin trực tiếp - Quan hệ xã hội 9 - Quảng cáo Tất cả các sản phẩm muốn bán được nhiều cần phải chiêu thị. Đối với sản phẩm du lịch, việc chiều thị lại cần thiết hơn vì: + Sức cần của sản phẩm là thời vụ và cần được khích lệ vào lúc tráo mùa. + Sức cần của sản phẩm rất nhậy bén về giá cả và biến động tình hình kinh tế. + Khách hàng thường phải được nghe về sản phẩm, trước khi thấy sản phẩm.
+ Sự trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu sản phẩm thường không sâu sắc + Hầu hết các sản phẩm bị cạnh tranh + Hầu hết các sản phẩm đều bị thay thế • Thực hiện chương trình Công việc thực hiện chương trình vô cùng quan trọng.