Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay Việt Nam – Nhật Bản của Tổng công ty hàng không Việt Nam Chương 3: Phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay Việt Nam – Nhật Bản. 5 CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH KHAI THÁC ĐƢỜNG BAY 1. Hiệu quả kinh doanh khai thác đƣờng bay và nâng cao hiệu quả kinh doanh khai thác đƣờng bay 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay Ngành hàng không quốc tế đến nay đã phát triển và cung cấp dịch vụ tới hầu như mọi nơi trên thế giới, và trở thành một phần không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu.
Ngành hàng không là một lực lượng kinh tế lớn, cả về hoạt động của mình và tác động của nó đối với các ngành liên quan như sản xuất máy bay và du lịch. Trong suốt quá trình phát triển của mình, ngành công nghiệp hàng không toàn cầu đã tạo ra nhiều bước nhảy vọt về đổi mới công nghệ như sự ra đời của máy bay phản lực cho sử dụng thương mại trong năm 1950, tiếp theo là sự phát triển của loại máy bay phản lực jumbo jets thân rộng trong năm 1970. Vào thời điểm đó, ngành hàng không có rất nhiều quy định hạn chế đối với các hãng hàng không trên toàn thế giới, dẫn đến hình thành một yêu cầu chú trọng đến các tiến bộ công nghệ và chính sách của chính phủ đã ưu tiên hơn lợi nhuận và cạnh tranh. Chỉ đến khi bãi bỏ một loạt các quy định vốn áp đặt các hãng hàng không tại Hoa Kỳ vào năm 1978 mới tạo ra chuyển biến trong công tác quản trị của các hãng hàng không.Các câu hỏi về hiệu quả chi phí, lợi nhuận hoạt động và hành vi cạnh tranh đã trở thành vấn đề chi phối đối với các nhà quản lý hãng hàng không.
Đồng thời với những thay đổi về chính sách của ngành hàng không thế giới, các quan niệm về hiệu quả kinh doanh khai thác cũng bắt đầu được hình thành và dựa trên các quan niệm này đã tạo ra các loại hình hãng hàng không. Quan niệm đầu tiên về hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay được hình thành ở giai đoạn đầu phát triển của ngành hàng không. Thời kỳ đó, các chính sách của chính phủ đòi hỏi các hãng hàng không đầu tư tập trung về công nghệ, kết hợp với các điều kiện liên quan đến tiêu chuẩn tối thiểu nhất định của trang thiết bị, phương thức vận hành hoạt động và tiêu chuẩn nhân sự, thông qua đó chính phủ sẽ 6 điều tiết và điều chỉnh chính sách của các hãng hàng không. Hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay lúc này được hiểu là đảm bảo về an toàn khai thác chuyến bay mà không tính tới vấn đề lợi nhuận hay cạnh tranh.
Đến cuối những năm 70, xuất phát từ Mỹ, việc bãi bỏ nhiều quy định hạn chế đối với ngành hàng không đã làm thay đổi bộ mặt của ngành. Tác động tích cực của việc bãi bỏ này gần như diễn ra ngay lập tức. Trong giai đoạn từ 1978 đến 1986, Loeb et al. (1994) báo cáo một số kết quả vô cùng ấn tượng.
Lượng khách đi trên máy bay của các hãng hàng không Mỹ tăng trưởng 52%, số dặm bay của hành khách tăng trưởng 62% và mức doanh thu trung bình trên một dặm khách tăng trưởng 30%. Lúc này, với mức giá cao và ít cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh khai thác được hiểu đơn thuần là tận dụng tối đa tàu bay nhằm cung cấp đầy đủ sản phẩm và mở rộng mạng bay. Cùng với việc bãi bỏ quy định, rất nhiều hãng hàng không mới được thành lập với định hướng giá vé rẻ nhằm cạnh tranh với các hãng hàng không truyền thống tập trung vào cung ứng dịch vụ tốt hơn. Các hãng giá rẻ này nhanh chóng thu hút được khách hàng về với chính sách giá rất rẻ, và nhanh chóng mở rộng mạng lưới đường bay của mình.
Tuy nhiên, do mở rộng quá mạnh đã làm tăng chi phí một cách nhanh chóng nên hầu hết các hãng này đã thất bại và bị mua lại bởi các hãng truyển thống. Đến đầu những năm 1990, với các điều chỉnh trong chính sách phát triển và mở rộng mạng bay, các hãng hàng không giá rẻ băt đầu phát triển nhanh chóng và ổn định. Lúc này hình thành nên hai quan niệm về hiệu quả đường bay. Đối với các hãng hàng không truyển thống, hiệu quả kinh doanh khai thác lúc này là tận dụng tối ưu tàu bay, và tối ưu hóa doanh thu mang lại.
Trong khi đó các hãng hàng không giá rẻ đặt ra yêu cầu sử dụng tối đa trang thiết bị, tối giản các chi phí hoạt động và tối đa doanh thu thông qua tối đa số lượng khách vận chuyển trên chuyến bay. Hiệu quả kinh doanh khai thác thời kỳ này tập trung chủ yếu vào việc tăng doanh thu hành khách và chia ra 3 quan niệm về tăng doanh thu: một là, cung cấp dịch vụ tốt nhất, số lượng khách trên chuyến bay hay hệ số sử dụng ghế thấp, bán với các mức giá cao nhằm tận thu; hai là, cắt giảm tối đa các dịch vụ không cần 7 thiết, bán với mức giá rẻ nhằm tăng số khách đi trên chuyến bay, hệ số sử dụng ghế cao từ đó tối đa doanh thu của mình; ba là, cung cấp nhiều mức dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách, áp dụng nhiều mức giá từ thấp tới cao, thông qua việc quản trị doanh thu tối ưu doanh thu của chuyến bay, hệ số sử dụng ghế ở mức đảm bảo. Từ những năm 2000, nền kinh tế thế giới trải qua cuộc đại suy thoái dẫn đến sự thay đổi lớn trong hành vi tiêu dùng của khách hàng. Nhu cầu đi lại sụt giảm cũng như khả năng chi trả đã tác động mạnh tới các hãng hàng không truyền thống, buộc các hãng này phải thay đổi quan điểm quản trị và quan tâm tới vấn đề chi phí.
Lúc này, quan điểm hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay được thay đổi khá lớn, các hãng hàng không chú trọng tới vấn đề sử dụng tối ưu tàu bay thay vì tối đa, điều chỉnh lại sản phẩm các đường bay về tần suất, dịch vụ, mức giá nhằm giảm thiểu chi phí, đồng thời áp dụng đa dạng mức giá nhằm tối ưu hóa doanh thu, từ đó đảm bảo hiệu quả tài chính. Tóm lại, hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được trên một đường bay và những chi phí phải bỏ ra để khai thác dường bay đó, bao gồm cả hiệu quả về vấn đề khai thác sử dụng tàu bay, năng lực vận chuyển cũng như hiệu quả về mặt tài chính. Vai trò của hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay đối với doanh nghiệp vận tải hàng không Bản chất của hiệu quả kinh doanh khai thác chỉ rõ trình độ sử dụng nguồn lực vào kinh doanh: trình độ sử dụng nguồn lực kinh doanh càng cao, các doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng của kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng của việc sử dụng nguồn lực đầu vào. Do đó, trên phương diện lý luận và thực tiễn phạm trù hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay đóng vai trò rất quan trọng trong việc so sánh đánh giá phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Như vậy, hiệu quả kinh doanh khai 8 thác đường bay không những là mục tiêu mục đích của các hãng hàng không mà còn là một phạm trù để phân tích đánh giá trình độ dụng các yếu tố đầu vào nói trên. Hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp hàng không thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh : Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các nhà doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu nất để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình. Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của việc sắp xếp sử dụng nguồn lực tàu bay, đánh giá năng lực vận chuyển của hãng… mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác đường bay của hãng, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện sản phẩm và tài chính của doanh nghiệp. Với tư cách là một công cụ quản trị kinh doanh vận tải hàng không, hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn mạng bay của hãng hoặc từng đường bay trong mạng bay của hãng hàng không. Do vậy xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả kinh doanh khai thác đường bay đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra.
Đặc điểm và yêu cầu của khai thác đƣờng bay 1. Đặc điểm của đường bay Ngành hàng không là ngành hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nên đặc điểm của kinh doanh khai thác đường bay có những đặc điểm đồng nhất với sản phẩm ngành dịch vụ, đồng thời cũng có một số đặc điểm có tính chất đặc thù: + Sản phẩm chính của ngành là dịch vụ vận tải hành khách và hàng hóa bằng đường hàng không.