phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty hàng không Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng công ty hàng không Việt Nam trong thời gian qua. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty hàng không Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Quan niệm về cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Các học thuyết kinh tế nghiên cứu nền kinh tế thị trường đều coi cạnh tranh là một trong những phạm trù kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa và đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi đó cung - cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường.
Tuỳ thuộc vào phương pháp luận và quan điểm mà các nhà tư tưởng kinh tế học đã định nghĩa cạnh tranh như một phạm trù kinh tế rất khác nhau. Theo cuốn Mác - Ăng Ghen toàn tập của Các Mác thì: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [10]. Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa tồn tại hai loại cạnh tranh là; cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, dù là loại hình cạnh tranh nào đi nữa thì các nhà tư bản cũng luôn đấu tranh gay gắt để lựa chọn những điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có lợi nhất. Các nhà tư bản tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất làm cho giá trị các biệt của hàng hóa sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó để thu được lợi nhuận siêu nghạch.
Theo cuốn Kinh tế học của P.Samuelson thì: "Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường" [11]. Vào nửa sau thế kỷ thứ XX, các nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, 5 P.Samuelson chủ trương phát triển nền kinh tế dựa vào cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Thị trường là nơi mà người bán và người mua trao đổi với nhau để xác định lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm trao đổi. Tuy nhiên cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật vốn có của nó đòi hỏi phải có sự điều tiết của nhà nước.
Thị trường hoạt động luôn tuân theo quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh là một xu thế khách quan trong nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp luôn cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng và mở rộng thị trường. Đối với doanh nghiệp cạnh tranh là con dao hai lưỡi.
Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có chi phí cao, sản phẩm kém chất lượng. Vì vậy nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của dịch vụ, tổ chức tốt khâu tiêu thụ để tồn tại và phát triển trên thị trường. Theo Từ điển Bách Khoa của Việt Nam thì: "Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất" [14]. Trong kinh doanh, cạnh tranh là đấu tranh để dành lấy các điều kiện sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất cho mình.
Các nhà kinh doanh luôn tìm cách để ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, năng suất cao và hiệu quả nhất. Cạnh tranh cũng bị chi phối bởi quan hệ cung cầu. Sản xuất càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt và kết quả là một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi một số doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát triển hơn nữa. Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh của viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thì: "Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể" [47].
Bất kỳ một sản phẩm nào khi đưa ra thị trường đều phải chịu một sức cạnh 6 tranh nhất định các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để tiêu thụ sản phẩm của mình với mức lợi nhuận lớn nhất. Muốn vậy, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng của sản phẩm, hạ giá thành bằng cách ứng dụng các công nghệ hiện đại, tạo ra nhiều lợi thế nhất. Có như vậy mới khẳng định được vị thế của mình. Ngoài ra, còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh ở một số điểm nổi bật sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật được một cơ hội, một sản phẩm, dự án,. một loạt điều kiện có lợi như thị trường, khách hàng,. và mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, thị trường v.v… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm (chính sách định giá thấp; chính sách định giá cao; chính sách ổn định giá; định giá theo thị trường; chính sách giá phân biệt; bán phá giá); cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ hậu mãi; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán v.
Để cạnh tranh, người ta phải cải tiến sản xuất, công nghệ, quản lý để thu dược lợi nhuận cao hơn và vì vậy mà có lợi thế hơn để phát triển, mở rộng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm được nhiều hơn,… và vòng tròn xoắn ốc này càng ngày càng đi lên, thúc đẩy phát triển xã hội và như vậy cạnh tranh là một trong những động lực để phát triển. 7 Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất hàng hoá thu được lợi nhuận cao hơn mức bình quân của xã hội là người có lợi thế phát triển rõ rệt. Như trên ta thấy, một trong những biện pháp thu được lợi nhuận cao là thông qua cạnh tranh. Cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường luôn là vấn đề mang tính thời sự, là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp.
Mặc dù có nhiều cách khác nhau để tiếp cận về cạnh tranh, song với cách tiếp cận như trên thì khái niệm cạnh tranh có thể được trình bày như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.2 Phân loại cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, đứng từ các góc độ khác nhau để xem xét, các nhà nghiên cứu đã phân chia cạnh tranh thành nhiều loại với các tiêu thức khác nhau: - Dưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa những người sản xuất (người bán) với nhau, giữa những người mua và người bán, người sản xuất và người tiêu dùng và giữa những người mua với nhau. Ở đây cạnh tranh xoay quanh các vấn đề chất lượng, giá cả và điều kiện dịch vụ. - Xét theo quy mô của cạnh tranh có: cạnh tranh của sản phẩm, cạnh tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của quốc gia.
- Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh có: cạnh tranh hợp pháp hay cạnh tranh lành mạnh (biện pháp cạnh tranh phù hợp với luật pháp, tập quán, đạo đức kinh doanh) và cạnh tranh bất hợp pháp hay cạnh tranh không lành mạnh (biện pháp cạnh tranh bằng những thủ đoạn chứ không phải vươn lên bằng sự nỗ lực của chính mình). - Xét theo hình thái của cạnh tranh có: cạnh tranh hoàn hảo, hay thuần tuý - đây là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoá là không 8 thay đổi trong toàn bộ địa danh của thị trường, bởi vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thị trường; và cạnh tranh không hoàn hảo - đây là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất mà ở đó người bán hàng hoặc sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền. Độc quyền nhóm là hình thái thị trường mà trong đó chỉ có một số ít các nhà sản xuất mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả của mình không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của các nhà cạnh tranh quan trọng trong ngành đó.
Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người bán sản xuất ra những sản phẩm có thể dễ dàng thay thế cho nhau.