phần mở đầu và kết luận thì cấu trúc của luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tƣ vấn thiết kế xây dựng. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Tƣ vấn và Xây dựng Huy Hoàng. Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Tƣ vấn và Xây dựng Huy Hoàng.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TƢ VẤN THIẾT KẾ XÂY DỰNG 1. Khái quát về hiệu quả kinh doanh 1. Hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Khái niệm HQKD hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu mà các tác giả đƣa ra các khái niệm phù hợp đối tƣợng nghiên cứu.
Theo cách tiếp cận hiệu quả gắn với mục tiêu của chủ thể, Paul A Samuemlson và William D.Nordhaus (1997) [22] cho rằng hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con ngƣời. Nhƣ vậy, để đạt hiệu quả thì chủ thể cần phải có phƣơng thức thực hiện tối ƣu các nguồn lực của nền kinh tế. Theo cách vận dụng khái niệm hiệu quả để đánh giá HQKD của DN, có nhiều quan điểm khác nhau nhƣ: tác giả Đoàn Thục Quyên (2015) [13] cho rằng HQKD của DN phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đầu ra và nguồn lực đầu vào. Kết quả đầu ra có thể kể tới là doanh thu, lợi nhuận,.
trên các nhân tố đầu vào nhƣ: VKD, VLĐ, VCĐ…; với tiếp cận này tác giả đã sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu quả kết quả đầu ra cùng với nguồn lực đầu vào. Tác giả Nguyễn Đình Hoàn (2017) [8] thì cho rằng đối với DN xây dựng thì hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ huy động và sử dụng nguồn lực của DN xây dựng để tạo ra kết quả đầu ra tối ƣu; tác giả chú trọng khả năng quản trị nguồn lực của DN sẽ tối ƣu đƣợc kết quả nhận đƣợc ở đầu ra. Có thể nhận xét, các quan niệm về HQKD nêu trên chủ yếu đƣợc nhìn nhận ở góc độ hiệu quả kinh tế, tức là hiệu quả chỉ xét về mặt tài chính đạt đƣợc cho chủ doanh nghiệp với mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận mà và không xem xét đến yếu tố cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển, HQKD không 8 còn đƣợc nhìn nhận đơn giản nhƣ vậy.
Có những quan điểm cho rằng HQKD phải đƣợc xem xét cả góc độ lợi ích tài chính cho chủ doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Theo hƣớng tiếp cận trên, tác giả Đỗ Huyền Trang (2012) [17] cho rằng HQKD là một phạm trù kinh tế đƣợc biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trƣng thiết lập trên cơ sở so sánh tƣơng quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc yếu tố đầu vào, qua đó phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đặt đƣợc kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Cùng quan điểm, tác giả Trần Thị Thu Phong (2012) [11] cho rằng HQKD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của DN vào KD sao cho hao phí nguồn lực là thấp nhất nhƣng mang lại lợi ích cao nhất. Lợi ích mang lại không chỉ cho bản thân DN mà còn cho cả xã hội.
Đối với DN tƣ vấn thiết kế xây dựng, quá trình kinh doanh bao gồm các hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ, nhƣ: Tƣ vấn thiết kế, quản lý dự án, tƣ vấn thẩm tra và các hoạt động tƣ vấn liên quan về xây dựng. và chủ yếu là bán “chất xám” với chi phí nhất định để tạo ra lợi nhuận cho DN và đứng trên góc độ vĩ mô thì nó còn phải góp phần làm tăng thu ngân sách cho nhà nƣớc, tạo thêm công ăn việc làm cho ngƣời lao động, nâng cao mức sống của ngƣời lao động… Với cách tiếp cận trên và qua nghiên cứu tổng quan, tác giả có thể đƣa ra một số đánh giá sau: - Xét trên góc độ của DN tƣ vấn thiết kế xây dựng: HQKD tốt có nghĩa là việc sử dụng các nguồn lực nhƣ nhân lực, tài lực, vật lực phải phù hợp với tiềm lực của DN, nâng cao đƣợc HQKD và lợi nhuận của DN. - Xét trên góc độ của khách hàng: HQKD tốt là sự phù hợp của các sản phẩm dịch vụ DN với nhu cầu, mục đích sử dụng của khách hàng - Xét trên góc độ kinh tế - xã hội: HQKD tốt phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trƣởng DN với phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết tốt vấn đề việc làm, thu nhập cho ngƣời lao động, hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, các loại bảo hiểm với nhà nƣớc và các hoạt động cộng đồng của DN. Thông qua nghiên cứu tổng quan, theo quan điểm của tác giả khái niệm về 9 HQKD sử dụng cho nghiên cứu Luận văn nhƣ sau: “HQKD của DN tư vấn thiết kế xây dựng là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các nhân tố đầu vào cho hoạt động kinh doanh của DN nhằm tối đa hóa lợi ích của DN và xã hội với nguồn lực hao phí thấp nhất”.
Nhƣ vậy quan niệm về HQKD của tác giả đề cập đến hiệu quả kinh tế, khi đạt đƣợc hiệu quả kinh tế thì cũng đạt đƣợc hiệu quả về mặt xã hội. Bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Bản chất HQKD của doanh nghiệp gồm 2 loại: HQTC và HQPTC (Santos, Brito, 2012) [24]. HQTC của doanh nghiệp phản ánh năng lực, trình độ sử dụng các nguồn lực tài chính tạo lập sức sinh lời và gia tăng giá trị thị trƣờng của doanh nghiệp, thông qua dữ liệu kế toán doanh nghiệp và dữ liệu thị trƣờng để xác định HQTC của doanh nghiệp. Chủ sở hữu và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá đƣợc lợi ích kinh tế thu đƣợc qua mỗi thời kỳ và tiềm năng, xu hƣớng phát triển của doanh nghiệp trong tƣơng lai.
HQPTC phản ánh năng lực, trình độ đáp ứng nhu cầu của các bên có liên quan bằng nguồn lực của doanh nghiệp. Những bên có liên quan bao gồm: khách hàng, ngƣời lao động, nhà cung cấp, nhà nƣớc, cƣ dân địa phƣơng… HQPTC của doanh nghiệp khó có thể đo lƣờng, tính toán số liệu chính xác nhƣ HQTC đƣợc, nhƣng các nhà quản lý của doanh nghiệp cũng nhƣ các bên có liên quan đều cần phải đánh giá định kỳ để có giải pháp giúp doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, cải thiện mối quan hệ với các bên liên quan, hƣớng tới hệ sinh thái phát triển bền vững. Trƣớc những thách thức ngày càng lớn trên toàn cầu về biến đổi khí hậu, phân cực giàu, nghèo và gần đây là xảy ra dịch bệnh trên phạm vi toàn cầu thì việc đánh giá HQKD của doanh nghiệp kết hợp cả HQTC và HQPTC sẽ cung cấp thông tin toàn diện hơn về HQKD của doanh nghiệp phục vụ việc ra quyết định của các chủ thể quản lý. Vai trò của hiệu quả kinh doanh HQKD là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế, quản lý doanh 1 nghiệp.
Vì HQKD đƣợc xem là một công cụ hữu ích giúp các nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của một DN đƣợc xác định bởi sự có mặt của DN đó trên thị trƣờng mà HQKD lại là nhân tố trực tiếp để đảm bảo sự tồn tại này. Do vậy, việc nâng cao HQKD là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các DN hoạt động trong cơ chế thị trƣờng hiện nay.
Để tồn tại và phát triển đòi hỏi nguồn vốn của DN phải không ngừng đƣợc tăng lên và một trong những cách cơ bản để tăng nguồn vốn của DN là đƣợc lấy từ lợi nhuận để lại qua các năm. Tuy nhiên trong điều kiện các nguồn lực có giới hạn thì để tăng đƣợc lợi nhuận bắt buộc các DN phải nâng cao HQKD của chính DN mình. Một cách nhìn khác, đó là sự tồn tại của DN đƣợc xác định bởi sự tạo ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu xã hội. Để thực hiện đƣợc nhƣ vậy thì DN phải tự biết cân đối tính toán giữa chi phí bỏ ra và kết quả mang lại để có thể tiếp tục quá trình tái sản xuất.
Vì vậy, DN buộc phải liên tục nâng cao HQKD trong mọi khâu của quá trình SXKD là một nhu cầu tất yếu. Tuy nhiên, sự tồn tại của một mới chỉ là bề ngoài còn yếu tố phát triển mới là cái cốt lõi bên trong mà mỗi DN đều phải hƣớng tới. Bởi vì sự tồn tại luôn phải đi kèm với sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích lũy để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng qui luật phát triển. Nhƣ vậy, đối với một DN mục tiêu chính không phải là bù đắp chi phí bỏ ra mà phải đảm bảo có sự tích lũy để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng và một lần nữa việc nâng cao HQKD đƣợc nhấn mạnh.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh tranh là động lực của sự phát triển của mọi DN trong nền kinh tế thị trƣờng. Dù muốn hay không, mọi DN đều phải trải nghiệm các thất bại, thành công mới tăng cƣờng sức đề kháng, rèn luyện khả năng chống, chịu rủi ro và thận trọng hơn ngay cả khi đang thành công, qua đó các nhà quản lý DN tích lũy 1 kinh nghiệm, bản lĩnh và chủ động hơn trong mọi tình huống thực tiễn. Thị trƣờng càng phát triển, hội nhập quốc tế càng sâu thì cạnh tranh càng gay gắt, khốc liệt, các DN thƣờng xuyên đánh giá quan hệ giữa kết quả thu đƣợc với các nguồn lực hao phí để xác định đƣợc HQKD, vị thế của DN trên thị trƣờng.