MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia hiện nay doanh nghiệp (DN) giữ vai trò then chốt. Với tư cách là các công dân được pháp luật cho phép thành lập, tồn tại và phát triển thì mục tiêu của các doanh nghiệp là phục vụ sự phát triển của xã hội. Sự đáp ứng đúng các nhu cầu cho các chủ thể kinh tế xã hội khác nhau là con đường chung để các nhà đầu tư vào DN tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu của mình. DN nào càng đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, DN đó càng có cơ hội tồn tại lâu dài và phát triển mạnh mẽ, nhà đầu tư vào DN có lợi nhuận tốt và bền vững.
Khi đó, các nhà kinh tế nhìn nhận là DN hoạt động hiệu quả cao, đóng góp vào sự hiệu quả của cả nền kinh tế quốc gia, đa quốc gia và toàn thế giới. Dù hoạt động kinh doanh dù ở lĩnh vực nào, kinh doanh hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng mà các DN phải đạt được. Nâng cao được hiệu quả kinh doanh (HQKD) là điều kiện cần giúp doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường, thực hiện được các mục tiêu lợi nhuận hay phát triển. Thị trường ngày nay không chỉ bó hẹp ở phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi khu vực và thế giới.
Cạnh tranh trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế như vậy là rất khó khăn. Vì vậy trong quản trị, các DN cần phải liên tục đánh giá lại HQKD của mình để từ đó có giải pháp phù hợp nhằm gia tăng hiệu quả của các hoạt động kinh doanh, nâng cao được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường quốc tế. Kinh doanh hiệu quả cả về kinh tế, xã hội là mục tiêu trước mắt và cũng là lâu dài của hầu hết các doanh nghiệp. Bởi vì kinh doanh hiệu quả không chỉ cho thấy doanh nghiệp đó đã hoạt động tốt trong lĩnh vực của mình mà còn cho thấy doanh nghiệp đó xứng đáng để tồn tại và phát triển, đóng góp cho sự Luan van 9 phát triển chung của nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, yêu cầu kinh doanh hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc đòi hỏi doanh nghiệp có khả năng làm tốt nhất những gì mình có thể mà còn đáp ứng được nhu cầu cao hơn ở phạm vi rộng hơn trong khu vực và toàn cầu. Vì vậy phạm trù hiệu quả kinh doanh không chỉ dừng lại ở phạm vi doanh nghiệp cá biệt mà phải là hiệu quả kinh tế của ngành, hiệu quả kinh tế xã hội của quốc gia trong lĩnh vực đó. Trong những năm đầu của thế kỷ 21, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành thủy sản Việt Nam nói chung, các DN thủy sản nói riêng. Năm 2017, chúng ta cán mốc xuất khẩu ra thị trường thế giới hơn 8 tỷ đôla Mỹ các mặt hàng thủy sản.
Các DN cũng đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng từ thị trường trong nước. Để đạt được thành tựu đó, các DN thủy sản ở Việt Nam đã không ngừng nỗ lực, cố gắng trong sản xuất kinh doanh, đáp ứng tiêu chuẩn cao từ phía thị trường trong và ngoài nước. Doanh thu liên tục gia tăng. Tuy vậy, các DN cũng gặp phải muôn vàn khó khăn phải giải quyết: từ đáp ứng các vấn đề Luật pháp quốc tế đến các qui định luật pháp quốc gia, từ vấn đề hội nhập sử dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại đến vấn đề phát huy truyền thống đất nước, từ vấn đề trách nhiệm kinh tế - tài chính cho đến các vấn đề trách nhiệm xã hội, môi trường.
Cũng có nhiều đơn vị phá sản bỏ cuộc, cũng có nhiều doanh nghiệp cất cánh, trở thành các nhà sản xuất kinh doanh lớn và chủ lực trên thị trường quốc tế. Qua nghiên cứu, tác giả luận án nhận thấy: hiện nay còn rất nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của DN. Vì thế cũng tồn tại quan điểm khác nhau về các phương pháp đo lường hiệu quả, các bộ chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả, các tranh luận xác định mối quan hệ giữa HQKD và các nhân tố ảnh hưởng rất đa dạng. Tác giả thấy rằng mỗi quan điểm đều có cở khoa học rất vững vàng nhưng chưa đầy đủ vì DN là một chủ thể kinh Luan van 10 tế có đời sống rất phong phú, phức tạp đòi hỏi các nhà chính sách, các nhà nghiên cứu, các nhà quản trị phải nhìn nhận DN ở nhiều góc độ đa dạng và toàn diện hơn là một đối tượng hay công cụ phát triển kinh tế.
Trên thế giới hiện nay, bối cảnh kinh tế hiện nay đã có nhiều thay đổi. Tiến bộ khoa học kỹ thuật và cách mạng công nghệ 4.0, đã đưa các quốc gia, các DN và con người xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Dù DN bạn ở Việt Nam cũng có thể đáp ứng nhu cầu cho các đối tác trên toàn thế giới nếu bạn có đủ khả năng. Cơ hội để các DN tìm kiếm lợi nhuận cũng như phát triển rất đa dạng và lớn.
Tất nhiên thách thức cũng rất nhiều khi chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế. Các DN sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhiều rào cản. DN cần phải nhìn nhận rõ vị trí, vai trò, điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội, thách thức của mình để có chiến lược phát triển phù hợp, để thực hiện bốn chữ kinh doanh hiệu quả. Các DN thủy sản ở Việt Nam tuy còn rất non trẻ nhưng đã chứng minh được tiềm lực phát triển trong thời gian đổi mới kinh tế đất nước.
Những đóng góp của DN cho sự phát triển chung là rất đáng ghi nhận. Hơn nữa, ngành thủy sản Việt Nam là ngành có rất nhiều tiềm năng phát triển. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, kết qủa kinh doanh của các DN thủy sản Việt Nam còn thấp, chưa xứng với tiềm lực của DN và ngành. Cụ thể, nếu so với các ngành kinh tế khá, khả năng sinh lời thấp và thiếu ổn định hơn rất nhiều cho dù doanh thu tăng trưởng rất ổn định.
Cơ cấu vốn nghiêng về nợ phải trả rất lớn khiến cho lo ngại về rủi ro tài chính và kinh doanh tăng cao. Xuất khẩu phát triển nhưng hàng bị trả lại cũng rất nhiều. Các quốc gia nhập khẩu thường xuyên nghi ngại về xuất xứ, chất lượng của DN Việt. Số lượng các DN niêm yết trên TTCK còn ít và chưa thu hút nhà đầu tư.
Số lượng DN rất lớn nhưng chủ yếu là DN qui mô vừa và nhỏ, thiếu sự liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị ngành. Ngành thủy sản là một mũi nhọn kinh tế nhưng chưa có Luan van 11 các DN xuyên quốc gia đủ lớn để giữ vai trò đầu tàu cho phát triển mạnh mẽ ra thị trường thế giới. Xuất phát từ những quan điểm đa dạng về hiệu quả kinh doanh trên thực tế. Xuất phát từ những nghiên cứu về một số doanh nghiệp thủy sản ở Việt Nam điển hình với rất nhiều phát hiện về sự bất cập trong vấn đề hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh doanh tổng thể và phát triển bền vững, tác giả nhận thấy: cần thiết phải nhận thức lại về thế nào là kinh doanh hiệu quả và làm sao để nâng cao HQKD của các doanh nghiệp thủy sản ở Việt Nam hiện nay.
Để ngành thủy sản vươn lên xứng tầm là ngành knh tế mũi nhọn của Việt Nam, để các DN thủy sản Việt Nam vươn lên là những con chim đầu đàn trong ngành thủy sản trên thế giới. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh doanh, thực trạng cũng như giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thủy sản ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu trong luận án tiến sỹ của mình.Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.Tổng quan các công trình trong nước a.Hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Vấn đề HQKD đã được các nhà kinh tế học trên thế giới đi sâu nghiên cứu từ những năm 1930, đặc biệt từ những năm 1960 đến nay. Hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào được coi là có hiệu quả? Những biểu hiện cụ thể của HQKD là gì? Đánh giá HQKD bằng cách nào? Làm sao để sản xuất kinh doanh có hiệu quả? Đó là những nội dung được đặt ra cho nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và điều hành sản xuất quan tâm nghiên cứu.
“HQKD là sự so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra và các chi phí đã phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh”. Ở Việt Nam, nhiều tác giả nghiên cứu về HQKD có cùng quan điểm này như các tác giả Ngô Đình Giao, Lưu Bích Hồ, Trần Văn Thao. Các tác giả này cho rằng hiệu Luan van 12 quả là quan hệ tỷ lệ hoặc hiệu số giữa kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Quan điểm này đề cập đến hiệu quả chính là trình độ sử dụng chi phí tạo ra kết quả như thế nào.
Tuy nhiên, nếu hai đối tượng, dùng quan hệ hiệu số giữa một chỉ tiêu kết quả với một chỉ tiêu chi phí nào đó thì ta lại thu được một chỉ tiêu kết quả khác, không so sánh được là ai hiệu quả hơn. Kết quả này chưa phản ánh được hiệu quả. Quan điểm này cũng mới chỉ đề cập đến chi phí thực tế phát sinh mà bỏ qua mối quan hệ giữa chi phí với nguồn lực của chi phí đó. Vì thế chỉ tiêu đo lường hiệu quả cũng chỉ dừng lại ở việc so sánh đơn giản theo số tuyệt đối.
- Theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Thương mại, Học viện Bưu chính viễn thông…đánh giá HQKD phải đánh giá về sức sản xuất, suất hao phí và sức sinh lời. Trong đó đánh giá HQKD bao gồm việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, khả năng sinh lời của vốn thông qua chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời vốn CSH. Việc đánh giá HQKD được đánh giá HQKD trên cả góc độ khả năng sử dụng các nguồn lực và khả năng sinh lời của nguồn lực. Tuy nhiên, việc phân tích suất hao phí chính là xem xét nghịch đảo các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất nên ít có ý nghĩa.
Quan điểm này đi sâu phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp.