mở đầu quyết định đến hành vi của mọi người. Mặc dù trong thời gian qua tỉnh Sơn La cũng đã có những cố gắng trong công tác tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng tới người dân. Tuy nhiên công tác này vẫn còn những bất cập, chưa tương xứng với ý nghĩa tầm quan trọng và đòi hỏi của thực tế đặt ra. một trong những đặc trưng của Sơn La là có nhiều dân tộc sinh sống.
Các dân tộc thiểu số thường sinh sống tại những vùng cao, xã sôi hẻo lánh, điều kiện giao lưu, tiếp xúc với thông tin đại chúng có nhiều hạn chế. Vì vậy sự hiểu biết về pháp luật bảo vệ rừng của họ chưa cao. Có nhiều trường hợp vi phạm pháp luật bảo vệ rừng không phải do họ cố ý mà do sự kém hiểu biết về pháp luật. Điều này cho thấy công tác tuyên tuyền chưa được làm tốt.
Hơn nữa, các dân tộc thiểu số còn có phong tục tập quán riêng trong sinh sống đôi khi không phù hợp với những quy định của pháp luật về QLBVR. Những tập quán canh tác, sinh hoạt này ăn sâu vào tiềm thức thành thói quen. Chính những thói quen canh tác, sinh hoạt đó cũng là nguyên nhân dẫn đế những vi phạm hành chính trong quản lý bảo vệ rừng. Để xóa bỏ những tập tục lạc hậu không phù hợp đó đòi hỏi phải tăng cường công tác vận động tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Do nhận thức hạn chế nên trong thời gian tới, cần đổi mới nội dung hình thức tuyên truyền, chuyển hướng xây dựng mô hình tuyên truyền ở cộng đồng dân cư và tổ chức chính trị - xã hội như chi bộ Đảng, mặt trận tổ quốc, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, phụ nữ, nông dân, các nhà trường. Nội dung tài liệu tuyên truyền tổ chức biên tập ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện theo các chủ đề về hỏi, đáp, các mô xvii hình trực quan, các tiểu phẩm hay, nhằm lôi cuốn, lan toả đến mọi tầng lớn nhân dân, tạo được dư luận tốt ủng hộ tích cực tham gia BVR, PTR, PCCCR, lên án đẩy lùi các hành vi xâm hại tài nguyên ở địa phương, đơn vị. Tăng cường công tác phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm với các cơ quan hữu quan có liên quan Trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng trực tiếp và trước tiên thuộc lực lượng kiểm lâm, tuy nhiên không thể giao khoán toàn bộ cho Chi cục Kiểm lâm. Bảo vệ rừng phải là trách nhiệm của toàn Đảng toàn dân với sự huy động tối đa đầy đủ mọi lực lượng, mọi cơ quan, tổ chức tham gia vào công tác này.
Theo quy định của phát luật, trong công tác kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trong quản lý bảo vệ rừng trực tiếp có sự liên quan giải quyết gồm nhiều cơ quan ban ngành như Kiểm lâm, Chính quyền các cấp, công an, quân đội, tòa án. Trong thời gian vừa qua Tỉnh Sơn La cũng đã có nhiều văn bản và quy định đòi hỏi sự tham gia phối hợp của các lực lực trên trong kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trong QLBVR. Trong thực tế hoạt động phối hợp cũng đã bước đầu được triển khai thực hiện. Tuy nhiên sự phối hợp đôi khi chưa đồng bộ, toàn diện.
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiểu quả và hiệu lực của công tác kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong QLBVR chưa được như mong muốn. Trong thời gian tới cần phải triển khai sự phối hợp nhịp nhàng đồng bộ ăn ý hơn nữa giữa các cơ quan tổ chức có liên quan trong tỉnh. Ngoài việc thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong kiểm tra, xử lý VPHC trong QLBVR các tổ chức như Công an, Quân đội, chính quyền các cấp, tòa án. phải nhận thức rõ sự cần thiết phải phối hợp hiệp tác trong tác này.
Chủ động lên kế hoạch, chia sẻ thông tin và tổ chức triển khai các hoạt động phối hợp hiệp tác trong kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính trong QLBVR. Để đảm bảo sự phối hợp hiệp tác thành công cần lựa chọn các hình thức tổ chức thích hợp trong đó có sự tham gia trực tiếp của các lực lượng có liên quan. Thành lập các đoàn liên ngành gồm: Kiểm lâm, Công an, Quân đội, Biên phòng mở các đợt kiểm tra, truy quét việc khai thác, buôn bán, tàng trữ, chế biến lâm sản trái phép, kể cả lâm sản trái phép đang tàng trữ trong các hộ gia đình; chú trọng soát xét toàn bộ các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản, các làng nghề có sử dụng gỗ trên toàn tỉnh, kiểm tra từ giấy phép cho đến nguồn gốc lâm sản đưa vào chế biến, kinh doanh. xviii nếu vi phạm thì thu hồi giấy phép, tịch thu lâm sản.
Kiên quyết tháo dỡ các xưởng lập trái phép, xử lý nghiêm, đúng pháp luật các hành vi vi phạm. Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào QLBVR Hiện nay công tác quản lý bảo vệ rừng do lực lượng kiểm lâm thực hiện vẫn dựa chủ yếu trên những phương tiện thiết bị và phương pháp quản lý truyền thống. Trong khi địa bàn rừng núi rộng, phức tạp địa hình hiểm trở, lực lượng nhân viên kiểm lâm mỏng, việc tuần tra kiểm soát, kiểm tra dựa trên sức người là chủ yếu nên có những vụ việc vi phạm phá hoại rừng xảy ra rồi Kiểm lâm mới phát hiện được hoặc chỉ khi có tin báo từ quần chúng mới phát hiện ra. Như vậy đã quá muộn, sự vi phạm đã xảy ra rồi, việc kiểm tra xử lý vi phạm chủ yếu mang tính khắc phục hậu quả.
Thiệt hại về rừng do những vu vi phạm đó gây ra thường khá lớn. Vì vậy cần nhanh chóng nghiên cứu đưa vào ứng dụng những công nghệ mới hiện đại, tận dụng những thành tựu trong công nghệ tin học và sự phát triển của Internet để nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung và công tác kiểm tra, xử lý vi phạm nói riêng. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về vi phạm hành chính trong QLBVR Theo quy định của pháp luật tại Nghị định 99/2009/NDD-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực này thì Kiểm lâm viên chỉ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền, ngoài ra không có quyền tịch thu hoặc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, dẫn đến việc bất hợp lý và ách tắc trong quá trình xử lý. Bất hợp lý này còn thể hiện rõ trong việc kiểm soát các hoạt động kinh doanh, buôn bán và vận chuyển, nuôi nhốt trái phép động vật hoang dã, quý hiếm tại địa phương, nhưng Chi cục trưởng Kiểm lâm lại không có quyền tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm trong khi các chức danh này thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật quy định cao hơn nhiều so với Đội trưởng và Hạt trưởng nên gặp nhiều khó khăn và làm giảm hiệu quả trong thực thi công việc.
Bồi dưỡng ý thức pháp luật Đổi mới nhận thức, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức kiểm lâm trong xử phạt vi phạm hành chính. Đây là một trong những việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm nâng cao một bước hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay; 4. Kết hợp giữa cơ quan xử lý vi phạm với thiết chế tự quản, giám sát tại địa xix phương Cùng với Ban lâm nghiệp xã, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên định kỳ cùng sinh hoạt với các xã, bản, hội nghị nhân dân trong bản, động viên mọi người thực hiện đầy đủ những quy định cùng những cam kết thực hiện trong bản quy ước chung về bảo vệ rừng. Lập danh sách những đối tượng vi phạm báo cáo chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; đồng thời phối hợp với công an xã mời gọi đối tượng để cảnh cáo, răn đe giáo dục và làm cam kết không tái phạm.
Các giải pháp đối với chính quyền các cấp - Đổi mới nhận thức về công tác QLBVR tại cơ sở, xác định vai trò, trách nhiệm tổ chức QLBVR của chính quyền cấp xã là giải pháp cơ bản, lâu dài. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách đối với cấp xã để chính quyền cơ sở thực sự có trách nhiệm, thẩm quyền và kinh phí thực hiện QLBVR cùng với nâng cao đời sống người dân. - Rà soát tổng diện tích và phân bố rừng hàng năm để có phương án bảo vệ; có chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác trồng rừng và bảo vệ rừng; xây dựng các điển hình tiên tiến về công tác bảo vệ rừng, trồng rừng. - Rà soát, hoàn thiện hành lang pháp lý, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ QLNN của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng; đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ rừng.
- Tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình cho đồng bào dân tộc, tạo đầu ra cho các sản phẩm nông lâm kết hợp, chế biến và bảo quản nông sản. , sớm hoàn thành chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo. Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên - Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật: + Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thiết lập cơ chế, tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo ngành và liên ngành hợp lý để quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả.
+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, xx ngành có liên quan rà soát, hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ và phát triển rừng; sửa đổi, bổ xung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, chính quyền các cấp và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược khung pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, tạo hành lang pháp lý ổn định trong hoạt động lâm nghiệp.