Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam".

  • Chuyên ngành: Khai thác Thủy sản; Mã số: 9620304.
  • Nghiên cứu sinh: Phạm Viết Tích; Khóa: 2014 – 2018.
  • Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Trần Đức Phú, 2. TS. Phan Trọng Huyến.
  • Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nha Trang (năm bảo vệ: 2021).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tỉnh Quảng Nam thuộc vùng Duyên hải miền Trung, có chiều dài bờ biển trên 125 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 40.000 km², cùng gần 30.000 ha mặt nước cửa sông, đầm lạch (trong đó có 10.000 ha bãi triều). Vùng biển ven bờ (VBVB) tỉnh Quảng Nam được xác định theo phạm vi phân định của Nghị định số 33/2010/NĐ-CP và Nghị định số 26/2019/NĐ-CP. Thực trạng công tác quản lý và khai thác tại vùng biển này trong thời gian qua còn nhiều bất cập, khiến nguồn lợi thủy sản (NLTS) ven bờ suy giảm nghiêm trọng.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ:

  1. Áp lực khai thác quá mức khi đội tàu công suất nhỏ hoạt động ven bờ chiếm tỷ lệ rất cao (trên 92% tổng số tàu thuyền toàn tỉnh) trong một ngư trường ven bờ chật hẹp.
  2. Tình trạng nhiều tàu cá công suất máy ≥ 20 CV và tàu nghề lưới kéo của các tỉnh lân cận xâm nhập hoạt động trái phép sai tuyến tại vùng biển ven bờ.
  3. Việc sử dụng các ngư cụ có tính chọn lọc thấp, kích thước mắt lưới nhỏ (đặc biệt là nghề lưới kéo đáy, nghề lờ dây) khai thác cá con chưa đến độ tuổi trưởng thành, phá hủy các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và rong biển, làm suy giảm nơi cư trú và sinh sản của các loài thủy sản.

Dấu hiệu suy giảm thể hiện rõ qua việc năng suất khai thác bình quân tính trên một đơn vị công suất máy tại Quảng Nam sụt giảm liên tục: từ 0,63 tấn/CV (năm 1997) xuống 0,54 tấn/CV (năm 2010) và chỉ còn 0,33 tấn/CV (năm 2016).

Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù địa phương đã có các đề án quy hoạch và một số nghiên cứu cải tiến ngư cụ xa bờ hoặc bảo tồn tại các khu vực hẹp (như Cù Lao Chàm, Mũi Bàn Than), nhưng cho đến nay chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, đầy đủ về hiệu quả hoạt động khai thác kết hợp với hiệu quả công tác bảo vệ NLTS trên toàn bộ vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam nhằm xây dựng hệ sinh thái giải pháp đồng bộ từ kỹ thuật đến quản lý.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam để phát triển bền vững ngành khai thác hải sản, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Điều tra số liệu thực trạng hoạt động khai thác tại VBVB tỉnh Quảng Nam, bao gồm số lượng, cỡ loại tàu thuyền, ngư cụ, lao động,...
    2. Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động khai thác tại VBVB tỉnh Quảng Nam nhằm làm rõ mức độ suy giảm hiệu quả khai thác của từng nghề.
    3. Điều tra số liệu thực trạng hoạt động công tác bảo vệ NLTS của địa phương tại VBVB tỉnh Quảng Nam.
    4. Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động công tác bảo vệ NLTS của địa phương tại VBVB tỉnh Quảng Nam nhằm làm rõ mức độ suy giảm hiệu quả của công tác này.
    5. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ NLTS trong VBVB tỉnh Quảng Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2020 (kết hợp chuỗi số liệu thống kê ngành giai đoạn 2014 – 2019).
  • Phạm vi không gian (Vùng biển nghiên cứu - VBNC):
    • Phía Đông: Giới hạn bởi tuyến bờ xác định theo Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ.
    • Phía Bắc: Đường thẳng nối từ điểm Qna-Đna01 (ranh giới bờ biển Quảng Nam và TP. Đà Nẵng: tọa độ 15°58’02” N, 108°17’18” E) cắt vuông góc với tuyến bờ tại điểm Qna-Đna02 (16°05’12” N, 108°25’51” E) theo Quyết định số 2180/QĐ-UBND ngày 11/7/2014 của UBND tỉnh Quảng Nam.
    • Phía Tây: Đường bờ biển tỉnh Quảng Nam (dài trên 125 km).
    • Phía Nam: Đường thẳng nối từ điểm Qna-QNga01 (ranh giới bờ biển Quảng Nam và tỉnh Quảng Ngãi: tọa độ 15°23’44” N, 108°44’05” E) qua điểm Qna-QNg02 (15°28’40” N, 108°46’24” E) cắt vuông góc với tuyến bờ tại điểm Qna-QNg03 (15°33’56” N, 108°57’06” E) theo Quyết định số 2180/QĐ-UBND.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  1. Nghiên cứu về quản lý cường lực khai thác và nghề cá quy mô nhỏ:
    • Robert Pomeroy (2011): Nghiên cứu "Quản lý nghề cá quy mô nhỏ: Khung thể chế và phương pháp tiếp cận cho các nước thế giới thứ 3" chỉ rõ khai thác quá mức ở nghề cá quy mô nhỏ phức tạp hơn nghề cá thương mại do tính phụ thuộc sinh kế của cộng đồng, áp dụng kỹ thuật đánh giá định tính (Delphi, PRA) và định lượng (peak-to-peak, sản xuất biên) để xác định cường lực tối ưu.
    • Huiguo Yu và Yunjun Yu (2008): Nghiên cứu "Quản lý cường lực khai thác ở Trung Quốc: xét về khía cạnh lý thuyết và thực tế" phân chia hai nhóm công cụ: Hệ thống điều chỉnh động cơ kinh tế (ITQs, thuế tài nguyên, TURFs) và Hệ thống ngăn cản động cơ (mua lại tàu, cấp phép, chính sách "tăng trưởng không" năm 1999 và chuyển sang "tăng trưởng âm" năm 2000 giảm 1,35% sản lượng xuống 14,78 triệu tấn để chuyển từ tăng số lượng sang nâng cao chất lượng).
    • Tokriska (2009): Đánh giá nghề cá Vịnh Thái Lan với các giải pháp cấm lưới kéo, te, xiệp trong phạm vi 3 km ven bờ, mua lại 50% số tàu lưới kéo/te và triển khai mô hình đồng quản lý.
    • Hsiang-Wen Huang và Ching-Ta Chuang (2009): Phân tích chương trình quản lý cường lực tại Đài Loan giai đoạn 1991 – 2008 với kinh phí 350 triệu USD nhằm phá hủy 30% tàu câu vàng quy mô lớn và 18% tàu khai thác nhỏ.
  2. Nghiên cứu về bảo vệ nguồn lợi bằng rạn nhân tạo (Artificial Reefs):
    • Hunter và cộng sự (2009): Khẳng định ngư cụ cào kéo phá hủy cấu trúc đáy biển và nhấn mạnh kinh nghiệm Nhật Bản (giai đoạn 1976 – 2000 chi gần 12.000 tỷ Yên xây dựng 6.443 đơn vị rạn nhân tạo với thể tích 53.000 m², chiếm 12,3% diện tích ven bờ, giúp năng suất tôm thẻ chân trắng tăng từ 150 kg/ha lên 200 kg/ha).
    • Francisco Leitao và cộng sự (2007): Khảo sát 174 bộ rạn nhân tạo trên 12,2 km² ở Nam Bồ Đào Nha (độ sâu 16 – 37 m), chứng minh vai trò cung cấp dinh dưỡng cho cá Tráp trắng và gia tăng sinh khối quần xã cá rạn.
    • Abmad Ali và cộng sự (2011): Đánh giá chương trình thả rạn nhân tạo tại Thái Lan từ năm 1978 (độ sâu 4 – 18 m) với mục tiêu kép: khôi phục nơi cư trú và tạo chướng ngại vật vật lý ngăn cản tàu lưới kéo đáy ven bờ.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Nghiên cứu về khai thác hợp lý và quản lý đội tàu:
    • Phan Trọng Huyến và cộng sự (2016): Xác định nội hàm khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản gồm hai khía cạnh: sản lượng (tổng sản lượng, tỷ lệ loài, kích thước cá thể, không gian, thời gian) và cường lực (tổng cường lực, mật độ tàu, chủng loại ngư cụ).
    • Tô Văn Phương (2016): Ứng dụng mô hình Schaefer đánh giá vùng biển ven bờ huyện Núi Thành (Quảng Nam), chỉ ra năng suất khai thác bình quân giảm từ 78,68 kg/ngày tàu (2011) xuống 43,99 kg/ngày tàu (2014); cường lực thực tế của 6 nghề (lưới rê, lưới kéo, câu, mành, lặn, lưới vây) đều vượt ngưỡng hợp lý.
    • Nguyễn Thị Hoa Hồng (2018): Xác định cường lực và sản lượng bền vững tối đa vùng ven bờ Cửa Lò – Diễn Châu (Nghệ An) bằng mô hình Schaefer.
    • Nguyễn Phi Toàn (2017): Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hợp lý tại Vịnh Bắc Bộ dựa trên chỉ số MSY.
    • Nghiên cứu của ĐH Copenhagen và CIEM (2010 - Dự án Danida FSPS II): Phân tích kinh tế thủy sản Việt Nam, chỉ ra năng suất đánh bắt sụt giảm từ 0,9 tấn/CV (1991) xuống 0,3 tấn/CV (2005) do số lượng tàu thuyền tăng quá nhanh (vượt 122.000 tàu máy).
    • Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2016): Đề án Quy hoạch phát triển thủy sản Quảng Nam đến 2020, định hướng 2030 (Quyết định số 2896/QĐ-UBND), chỉ ra thất bại của việc kiểm soát quy mô đội tàu ven bờ do hạn chế về cơ sở dữ liệu đầu vào và thiếu giải pháp sinh kế thay thế.
  2. Nghiên cứu về cải tiến ngư cụ và mô hình bảo vệ nguồn lợi:
    • Trần Đức Phú (2010 – 2011): Cải tiến nghề lồng bẫy truyền thống tại Ninh Thuận, thiết kế lồng trụ tròn, chữ nhật và bán nguyệt; kích thước mắt lưới bao 2a = 80 mm giúp giảm tỷ lệ ghẹ non xuống dưới 15%; hiệu quả kinh tế cao gấp 9,8 lần lồng truyền thống.
    • Trần Văn Vinh (2011 – 2016): Xác định sản lượng khai thác bền vững tại đầm Thị Nại (Bình Định) bằng mô hình Schaefer, Fox và xây dựng quy chế đồng quản lý.
    • Vũ Kế Nghiệp (2017): Tính toán MSY và cường lực tối ưu tại Vịnh Vân Phong (Khánh Hòa).
    • Nguyễn Trọng Lương (2013 – 2015): Xây dựng mô hình chà - rạn nhân tạo tại vùng ven bờ Quảng Nam, ghi nhận số loài thủy sản tăng từ 45 lên 73 loài, mật độ sinh vật tăng 6,7 lần, năng suất nghề câu và lưới rê quanh khu rạn tăng 1,4 – 1,5 lần.
    • Võ Sỹ Tuấn và cs. (2006), Viện Hải dương học (2008), Sở NN&PTNT Quảng Nam (2009): Đánh giá đa dạng sinh học Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (277 loài san hô, 270 loài cá rạn), hiện trạng rạn san hô Mũi Bàn Than và hệ sinh thái đất ngập nước ven biển.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây tại Quảng Nam chỉ khảo sát trên phạm vi không gian hẹp (từng huyện, xã đảo hoặc một điểm rạn) hoặc chỉ đánh giá độc lập về đa dạng sinh học mà chưa phân tích chi tiết hiệu quả kinh tế - kỹ thuật theo từng nhóm nghề khai thác ven bờ. Luận án kế thừa các phương pháp luận về quản lý cường lực và kinh nghiệm thực nghiệm rạn nhân tạo/lồng bẫy, tiến hành điều tra toàn diện trên toàn bộ vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam cho 6 nhóm nghề chính, đồng thời xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp gắn kết giữa giảm áp lực tàu thuyền, chuyển đổi sinh kế thân thiện môi trường và phục hồi sinh cảnh đáy biển.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết quản lý nghề cá và khai thác hợp lý: Dựa trên các nguyên lý cân bằng giữa cường lực khai thác ($f$) và sản lượng khai thác ($Y$) với sản lượng bền vững tối đa ($MSY$), hạn ngạch khai thác cho phép ($TAC$) và quyền sử dụng lãnh thổ trong khai thác thủy sản ($TURFs$).
  • Lý thuyết bảo tồn và phục hồi sinh thái: Tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý nghề cá, nguyên lý phục hồi sinh cảnh đáy và tạo vùng trú ngụ, sinh sản cho các loài thủy sản thông qua mô hình rạn nhân tạo (Artificial Reefs).
  • Lý thuyết kinh tế học nghề cá quy mô nhỏ và đồng quản lý (Co-management): Phân tích cơ cấu chi phí, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập thuyền viên và sự tham gia của cộng đồng ngư dân trong việc bảo vệ nguồn lợi.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

[Số liệu thứ cấp (2014-2019)] + [Điều tra sơ cấp (Phỏng vấn mẫu 6 nhóm nghề)]
  1. Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Số liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo thống kê giai đoạn 2014 – 2019 từ Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Quảng Nam, Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam, UBND các huyện, thành phố (Núi Thành, Duy Xuyên, Hội An, Tam Kỳ, Thăng Bình, Điện Bàn) về tàu thuyền, sản lượng, công tác thanh tra xử phạt.
    • Số liệu sơ cấp: Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp chủ tàu, thuyền viên và cán bộ quản lý nghề cá theo 6 nhóm nghề: nghề lưới rê, nghề câu, nghề lưới vây, nghề lưới kéo, nghề lồng bẫy và nhóm nghề khác, phân bổ theo các dải công suất máy (<20 CV, 20 – <50 CV, 50 – <90 CV, 90 – <400 CV, ≥400 CV).
  2. Phương pháp đánh giá hiệu quả khai thác:
    • Đánh giá kỹ thuật: Năng suất đánh bắt (CPUE - kg/ngày tàu, tấn/CV), sản lượng đánh bắt theo nghề, tỷ lệ thành phần loài, tỷ lệ cá con/cá có giá trị kinh tế.
    • Đánh giá kinh tế: Vốn đầu tư, doanh thu, chi phí sản xuất, lợi nhuận bình quân và thu nhập của thuyền viên theo từng nghề và nhóm công suất.
  3. Phương pháp đánh giá hiệu quả công tác bảo vệ nguồn lợi:
    • Phân tích hiệu lực văn bản quản lý nhà nước, công tác tuyên truyền giáo dục.
    • Phân tích số liệu tuần tra kiểm soát: Tỷ lệ vi phạm vùng biển khai thác, vi phạm vùng cấm, sử dụng chất nổ/xung điện/ngư cụ cấm (lưới kéo ven bờ, lờ dây), vi phạm quy định kích thước mắt lưới tối thiểu.
  4. Phương pháp xây dựng và thử nghiệm giải pháp:
    • Tính toán cắt giảm tàu thuyền: Xác định số lượng tàu vi phạm và công suất cần cắt giảm theo từng năm dựa trên sản lượng và cường lực cho phép.
    • Thực nghiệm chuyển đổi nghề: Thử nghiệm mô hình lồng bẫy ghẹ cải tiến, phân tích các chỉ tiêu kỹ thuật, tính chọn lọc (mắt lưới $2a = 80\text{ mm}$), chi phí đầu tư và mức độ chấp nhận của ngư dân.
    • Thực nghiệm thả rạn nhân tạo: Thiết kế khuôn đúc bê tông rạn nhân tạo, xây dựng sơ đồ bố trí cụm rạn tại vùng biển Mũi Bàn Than (huyện Núi Thành), tổ chức thả bằng sà lan và sử dụng phương pháp lặn khảo sát (Scuba diving) để đánh giá mật độ cá thể, tần suất bắt gặp và sự phát triển sinh cảnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tiềm năng nguồn lợi và hiện trạng nghề cá tỉnh Quảng Nam, đồng thời tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.

  • Tiềm năng thủy sản và môi trường tự nhiên: Quảng Nam có hệ thống sông Thu Bồn (lưu vực 10.350 km²) và sông Vu Gia (lưu vực 5.180 km²) đổ ra biển qua Cửa Đại và Cửa An Hòa. Tổng trữ lượng cá nổi và hải sản tầng đáy toàn tỉnh ước tính 712 nghìn tấn, khả năng khai thác 294 nghìn tấn. Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp, TP. Hội An) có diện tích 5.175 ha mặt nước, bao gồm 311 ha rạn san hô (277 loài) và 500 ha thảm cỏ biển, nơi đóng góp 74% thu nhập của cư dân đảo từ nghề cá.
  • Diễn biến số lượng và cơ cấu tàu thuyền (2014 – 2019): Tổng số tàu thuyền toàn tỉnh tăng nhẹ từ 5.581 chiếc (2014) lên 5.661 chiếc (2019). Tàu công suất lớn ≥ 400 CV tăng nhanh với tốc độ 61,6%/năm (từ 141 chiếc lên 575 chiếc). Tuy nhiên, đội tàu nhỏ < 20 CV vẫn duy trì số lượng áp đảo (3.581 chiếc năm 2014 và 3.852 chiếc năm 2019). Núi Thành, Hội An và Thăng Bình là ba địa phương có số lượng tàu cá lớn nhất tỉnh.

Bảng: Biến động tàu cá theo nhóm công suất tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014 – 2019

Nhóm công suất (CV) Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
< 20 3.581 3.737 3.754 3.834 3.844 3.852
20 – < 50 836 829 805 772 754 741
50 – < 90 234 225 212 198 185 180
90 – < 400 480 425 390 350 328 313
≥ 400 141 240 385 496 561 575
Tổng số 5.581 5.456 5.546 5.650 5.672 5.661
  • Cơ cấu nghề nghiệp khai thác (năm 2019): Lưới rê chiếm tỷ trọng cao nhất với 44,3% (2.982 chiếc), tiếp đến là nghề câu 20,6% (1.151 chiếc), nghề khác 14,1% (799 chiếc), lưới vây 8,4% (470 chiếc), lồng bẫy 5,9% (327 chiếc), lưới kéo 3,6% (200 chiếc), chụp mực 1,9% (105 chiếc) và tàu dịch vụ hậu cần 59 chiếc.

Bảng: Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất và nghề nghiệp năm 2019

STT Nghề khai thác < 20 CV 20 – <50 CV 50 – <90 CV 90 – <400 CV > 400 CV Tổng số Tỷ lệ (%)
1 Lưới kéo 75 82 35 08 00 200 3,6%
2 Lưới vây 05 148 46 122 149 470 8,4%
3 Lưới rê 2.182 291 34 43 120 2.982 44,3%
4 Nghề câu 590 252 35 75 199 1.151 20,6%
5 Chụp mực 00 01 02 27 75 105 1,9%
6 Lồng bẫy 245 45 16 19 02 327 5,9%
7 Nghề khác 764 25 08 01 01 799 14,1%
8 Dịch vụ hậu cần 00 08 04 18 29 59 1,2%
Tổng cộng 3.852 852 180 313 575 5.661 100%
  • Sản lượng và giá trị: Sản lượng khai thác toàn tỉnh tăng liên tục từ 60.891 tấn (năm 2014, giá trị 2.700 tỷ đồng) lên 92.164 tấn (năm 2019, giá trị 3.650 tỷ đồng), tốc độ tăng trưởng bình quân 8,9%/năm. Sự gia tăng sản lượng chủ yếu đến từ đội tàu khai thác xa bờ (>400 CV), trong khi vùng ven bờ chịu áp lực khai thác cạn kiệt.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết cơ sở phương pháp luận và các bước triển khai kỹ thuật của đề tài:

  • Trình bày 5 nội dung nghiên cứu thực nghiệm và điều tra thực địa.
  • Thiết lập quy trình phân bổ mẫu điều tra số liệu sơ cấp tại 6 địa phương ven biển: Núi Thành, TP. Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình, TP. Tam Kỳ, Điện Bàn.
  • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật: CPUE (năng suất ngày tàu, năng suất đơn vị công suất), cơ cấu chi phí (nhiên liệu, đá, lương thực phẩm, sửa chữa), doanh thu, lợi nhuận và thu nhập thuyền viên.
  • Xây dựng phương pháp điều tra đánh giá thực trạng vi phạm quy định khai thác: Vi phạm ranh giới tuyến bờ theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP, vi phạm vùng cấm đánh bắt, sử dụng nghề và ngư cụ cấm (lưới kéo đáy ven bờ, lờ dây/lồng bát quái, xung điện).
  • Thiết lập quy trình kỹ thuật cho 4 giải pháp:
    1. Quy trình tính toán số lượng tàu cần cắt giảm theo nghề và công suất.
    2. Quy trình thử nghiệm và chuyển giao ngư cụ lồng bẫy ghẹ cải tiến.
    3. Quy trình thiết kế, thi công đúc khối bê tông rạn nhân tạo và sơ đồ thả định vị tại Mũi Bàn Than.
    4. Quy trình xây dựng cơ chế quản lý hành chính và đồng quản lý nghề cá ven bờ.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, tập trung vào các phát hiện điều tra thực địa, đánh giá hiệu quả và kết quả thử nghiệm 4 nhóm giải pháp:

1. Thực trạng hoạt động khai thác và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật

  • Đặc điểm kỹ thuật đội tàu ven bờ: Đa số vỏ tàu làm bằng gỗ hoặc nan tre, trang thiết bị hàng hải và an toàn hàng hải (la bàn, định vị GPS, phao cứu sinh, máy liên lạc tầm xa) rất nghèo nàn. Lao động trên tàu cá ven bờ chủ yếu có độ tuổi trên 40, trình độ học vấn thấp (chủ yếu là tiểu học và trung học cơ sở), hoạt động dựa vào kinh nghiệm gia truyền, thiếu kiến thức pháp luật và kỹ thuật hàng hải chính quy.
  • Thực trạng ngư cụ:
    • Nghề lưới rê ven bờ chủ yếu dùng lưới rê đáy, lưới rê 3 lớp có kích thước mắt lưới rất nhỏ ($2a < 25\text{ mm}$).
    • Nghề lưới kéo (gồm kéo đơn và kéo đôi) hoạt động sát bờ, sử dụng kích thước mắt lưới túi rất nhỏ (chỉ từ 10 – 18 mm), cào quét toàn bộ nền đáy.
    • Nghề lờ dây (lồng bát quái xuất xứ Trung Quốc) phát triển tự phát, có chiều dài hàng chục mét với mắt lưới túi cực nhỏ, đánh bắt triệt để các loài thủy sản non.
  • Năng suất và thành phần sản phẩm khai thác: Năng suất khai thác bình quân của tất cả các nghề ven bờ giai đoạn 2015 – 2019 đều suy giảm. Tỷ lệ cá có giá trị kinh tế thấp, tỷ lệ cá tạp và cá con chưa trưởng thành trong mẻ lưới của nghề lưới kéo và lờ dây chiếm từ 60% đến 85%.
  • Chỉ số kinh tế: Nhóm tàu ven bờ công suất < 20 CV và 20 – < 50 CV có mức vốn đầu tư thấp nhưng tỷ suất lợi nhuận và thu nhập thuyền viên rất bấp bênh. Do chi phí nhiên liệu tăng và sản lượng cá có giá trị giảm sút, thu nhập bình quân của lao động nghề lưới rê, lờ dây ven bờ chỉ đạt mức thấp, nhiều chuyến biển hòa vốn hoặc thua lỗ.

2. Thực trạng công tác bảo vệ nguồn lợi và các hành vi vi phạm

  • Năng lực quản lý và thanh tra: Lực lượng kiểm ngư, thanh tra chuyên ngành còn rất mỏng, cơ sở vật chất và tàu tuần tra không đủ đáp ứng việc kiểm soát đường bờ biển dài 125 km.
  • Thực trạng vi phạm pháp luật: Tình trạng vi phạm tuyến ven bờ diễn biến phức tạp. Nhiều tàu cá có công suất ≥ 20 CV và tàu lưới kéo tỉnh ngoài thường xuyên xâm nhập vùng biển ven bờ khai thác trái phép vào ban đêm. Hoạt động sử dụng xung điện, chất nổ và ngư cụ cấm (lờ dây, lưới kéo mắt lưới nhỏ) vẫn diễn ra phổ biến tại các vùng bãi triều, cửa sông và khu vực quanh rạn san hô.

3. Kết quả triển khai 4 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả và bảo vệ NLTS

  1. Giải pháp 1 - Cắt giảm số lượng tàu khai thác tại VBVB Quảng Nam:
    • Căn cứ vào trữ lượng cho phép và mức độ xâm hại nguồn lợi, luận án tính toán số lượng tàu vi phạm và xác lập lộ trình cắt giảm cụ thể cho các nghề cấm khai thác ven bờ (nghề lưới kéo < 90 CV, nghề lờ dây) và nhóm tàu công suất ≥ 20 CV hoạt động sai tuyến ven bờ theo từng năm.
  2. Giải pháp 2 - Chuyển đổi sang nghề lồng bẫy ghẹ thân thiện môi trường:
    • Luận án đã thiết kế, cải tiến và thử nghiệm mô hình lồng bẫy ghẹ dạng trụ tròn và chữ nhật.
    • Kết quả thử nghiệm: Khi sử dụng lưới bao lồng có kích thước mắt lưới $2a = 80\text{ mm}$, tính chọn lọc của ngư cụ tăng cao rõ rệt, tỷ lệ ghẹ non bị bắt giữ dưới 15% (đáp ứng đúng Thông tư 02/2006/TT-BTS), loại bỏ hiện tượng đánh bắt tận diệt.
    • Hiệu quả kinh tế: Mặc dù vốn đầu tư cho một vàng lồng bẫy cải tiến cao hơn lồng truyền thống 1,27 lần (251.000 đồng/lồng so với 197.000 đồng/lồng), nhưng tuổi thọ lồng đạt 2,5 – 3 năm (gấp 3 lần lồng truyền thống) và năng suất đánh bắt cao hơn 1,5 lần, giúp lợi nhuận và thu nhập thuyền viên cao hơn đáng kể. Có 92,6% ngư dân tham gia tập huấn đồng thuận cao và đăng ký chuyển đổi mô hình.
  3. Giải pháp 3 - Thả rạn nhân tạo bảo vệ và phục hồi nguồn lợi tại Mũi Bàn Than (Núi Thành):
    • Thiết kế các khối rạn bê tông hình chuông đục lỗ và khối hộp rỗng, vận chuyển bằng sà lan và lắp đặt thành các cụm rạn tại vùng nước Mũi Bàn Than.
    • Kết quả khảo sát lặn đáy (Scuba diving):
      • Mật độ và tần suất bắt gặp các loài thủy sản tại khu thả rạn tăng nhanh theo thời gian thả.
      • Sau 5 tháng lắp đặt, mật độ sinh vật tầng đáy tăng 40% ở mặt cắt ngang và 77% ở mặt cắt đứng; tổng mật độ cá thể tăng gấp 6,7 lần so với trước khi thả rạn (đạt mức 1.812 cá thể/400 m²).
      • Trên các khối bê tông rạn nhân tạo đã hình thành và phát triển các thảm rong biển, tập đoàn san hô mềm bám vào, thu hút các đàn cá nổi và cá đáy (cá mú, cá tráp, giáp xác) về cư trú và sinh sản.
      • Các khối rạn bê tông đóng vai trò chướng ngại vật vật lý cố định, ngăn chặn hoàn toàn hoạt động cào quét trái phép của các tàu lưới kéo đáy tại khu vực bảo vệ.
  4. Giải pháp 4 - Tăng cường năng lực và biện pháp quản lý hành chính:
    • Đề xuất hoàn thiện quy chế quản lý khai thác vùng bờ, phân định rõ thẩm quyền quản lý cho cấp huyện, xã.
    • Đẩy mạnh tuần tra liên ngành (Kiểm ngư, Biên phòng, Cảnh sát biển), xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm kích thước mắt lưới và khai thác sai tuyến.
    • Thiết lập mô hình đồng quản lý (Co-management) trao quyền tự quản bảo vệ khu rạn nhân tạo và bãi đẻ thủy sản cho cộng đồng ngư dân địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện, cập nhật về thực trạng hoạt động khai thác (cơ cấu tàu thuyền, ngư cụ, lao động, hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của 6 nhóm nghề) và thực trạng công tác quản lý bảo vệ NLTS tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam.
  2. Phân tích, làm rõ mối quan hệ định lượng giữa sự gia tăng cường lực đánh bắt ven bờ với mức độ suy giảm năng suất khai thác (CPUE), suy thoái kích thước cá thể và suy giảm sinh cảnh rạn san hô, cỏ biển.
  3. Bổ sung luận cứ khoa học về tính chọn lọc sinh học của ngư cụ lồng bẫy ghẹ cải tiến ($2a = 80\text{ mm}$) và cơ chế phục hồi quần xã sinh vật tầng đáy bằng mô hình rạn nhân tạo bê tông kết hợp chướng ngại vật chống cào đáy tại vùng biển ven bờ miền Trung.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng

  1. Xây dựng lộ trình cụ thể về việc cắt giảm số lượng tàu thuyền khai thác gây hại nguồn lợi (lưới kéo ven bờ, lờ dây) và tàu hoạt động sai phân vùng khai thác tại vùng biển ven bờ Quảng Nam.
  2. Chuyển giao thành công mô hình nghề lồng bẫy ghẹ thân thiện môi trường thay thế nghề lưới kéo và lờ dây, chứng minh được hiệu quả vượt trội về kinh tế và độ an toàn khai thác cho ngư dân.
  3. Xây dựng và kiểm chứng thực nghiệm mô hình bảo vệ, tái tạo nguồn lợi bằng rạn nhân tạo tại vùng biển Mũi Bàn Than (huyện Núi Thành), cung cấp giải pháp vật lý ngăn chặn tàu lưới kéo cào đáy và phục hồi hệ sinh thái biển ven bờ.
  4. Cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn trực tiếp giúp Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Quảng Nam và các cơ quan quản lý nghề cá địa phương xây dựng các chính sách, quy hoạch sắp xếp lại đội tàu ven bờ, ban hành quy chế quản lý và thực hiện hiệu quả chính sách phát triển thủy sản bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nguồn số liệu về trữ lượng sinh khối thủy sản tổng thể tại vùng biển ven bờ chủ yếu kế thừa từ các dự án khảo sát chuyên ngành trước đây, chưa có điều kiện thực hiện các đợt điều tra quét sóng âm đo sinh khối đồng bộ trên toàn bộ dải ven bờ trong cùng chu kỳ nghiên cứu.
  • Thử nghiệm mô hình rạn nhân tạo mới chỉ tập trung triển khai tại một khu vực điển hình là vùng biển Mũi Bàn Than (huyện Núi Thành); thời gian quan trắc sau thả còn giới hạn trong thời gian thực hiện luận án (chưa đánh giá hết tác động của các biến cố thời tiết cực đoan qua nhiều chu kỳ bão lớn).
  • Việc cắt giảm tàu cá và chuyển đổi sinh kế cho ngư dân phụ thuộc lớn vào khả năng cân đối nguồn ngân sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi, quan trắc dài hạn diễn biến đa dạng sinh học quần xã cá rạn, tốc độ phát triển của san hô mềm và độ bền cơ học của hệ thống rạn nhân tạo tại Mũi Bàn Than qua các mùa gió mùa Đông Bắc và mưa bão.
  • Nghiên cứu nhân rộng mô hình thả rạn nhân tạo sang các vùng biển ven bờ khác của tỉnh Quảng Nam như khu vực ven bờ TP. Hội An, thị xã Điện Bàn, huyện Duy Xuyên và Thăng Bình.
  • Nghiên cứu hoàn thiện chuỗi giá trị và công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với sản phẩm khai thác từ nghề lồng bẫy ghẹ cải tiến nhằm tối ưu hóa giá trị thương phẩm cho ngư dân.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp & PTNT, Sở Nông nghiệp & PTNT Quảng Nam, Chi cục Thủy sản): Cung cấp bộ số liệu thực địa và luận cứ khoa học để xây dựng hạn ngạch cấp phép khai thác ven bờ, phân bổ hạn ngạch giấy phép nghề cá theo Luật Thủy sản 2017, điều chỉnh quy hoạch đội tàu và ban hành chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề cấm.
  • Đối với các viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị về chuyên ngành Khai thác thủy sản, Quản lý nguồn lợi thủy sản, cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa điều tra kỹ thuật - kinh tế nghề cá quy mô nhỏ với kỹ thuật thiết kế, lắp đặt và đánh giá sinh thái rạn nhân tạo.
  • Đối với chính quyền địa phương ven biển và cộng đồng ngư dân: Cung cấp hướng dẫn kỹ thuật thực hành chuyển đổi sang nghề lồng bẫy ghẹ có tính chọn lọc cao, quy trình phối hợp xây dựng mô hình đồng quản lý bảo vệ vùng rạn và ngư trường truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu đội tàu khai thác thủy sản tỉnh Quảng Nam năm 2019 có đặc điểm gì nổi bật?

Theo số liệu thống kê năm 2019 của Chi cục Thủy sản Quảng Nam, toàn tỉnh có 5.661 tàu cá. Trong đó, đội tàu công suất nhỏ < 20 CV chiếm ưu thế tuyệt đối với 3.852 chiếc (chiếm 68,0% tổng số tàu). Về cơ cấu nghề nghiệp, nghề lưới rê chiếm tỷ trọng lớn nhất với 44,3% (2.982 chiếc), tiếp theo là nghề câu chiếm 20,6% (1.151 chiếc), nghề khác chiếm 14,1% (799 chiếc), lưới vây chiếm 8,4% (470 chiếc), lồng bẫy chiếm 5,9% (327 chiếc), lưới kéo chiếm 3,6% (200 chiếc), chụp mực 1,9% (105 chiếc) và dịch vụ hậu cần 59 chiếc. Đội tàu xa bờ công suất ≥ 400 CV tăng trưởng rất nhanh, đạt 575 chiếc vào năm 2019.

2. Nguyên nhân chính khiến nguồn lợi thủy sản ven bờ tỉnh Quảng Nam suy giảm nghiêm trọng là gì?

Nguyên nhân chủ yếu do áp lực cường lực khai thác vượt quá sức chịu tải của ngư trường: trên 92% số tàu thuyền tập trung ở vùng ven bờ; nhiều tàu công suất ≥ 20 CV và tàu lưới kéo tỉnh khác vẫn càn quét sai tuyến. Đồng thời, việc sử dụng các ngư cụ mang tính hủy diệt và chọn lọc thấp như nghề lưới kéo đáy ven bờ, nghề lờ dây với kích thước mắt lưới rất nhỏ đã khai thác cạn kiệt nguồn cá con chưa trưởng thành, cào nát nền đáy làm phá hủy các rạn san hô và thảm cỏ biển là nơi cư trú, sinh sản của các loài thủy sản.

3. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cụ thể nào?

Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Giải pháp cắt giảm số lượng tàu thuyền: Xây dựng lộ trình cắt giảm cụ thể đối với các tàu làm nghề cấm ven bờ (lưới kéo, lờ dây) và tàu vi phạm tuyến khai thác.
  2. Giải pháp chuyển đổi nghề: Chuyển đổi ngư dân từ các nghề xâm hại môi trường sang nghề lồng bẫy ghẹ cải tiến có tính chọn lọc cao.
  3. Giải pháp thả rạn nhân tạo: Thiết kế, đúc khối bê tông và lắp đặt cụm rạn nhân tạo tại vùng biển Mũi Bàn Than (Núi Thành) để phục hồi sinh cảnh và ngăn cản tàu lưới kéo.
  4. Giải pháp quản lý hành chính: Hoàn thiện thể chế quản lý, đẩy mạnh tuần tra liên ngành xử phạt vi phạm và áp dụng cơ chế đồng quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng.

4. Kết quả thử nghiệm mô hình thả rạn nhân tạo tại Mũi Bàn Than mang lại hiệu quả như thế nào?

Khảo sát lặn biển (Scuba diving) tại khu thả rạn Mũi Bàn Than cho thấy: Sau 5 tháng, mật độ sinh vật đáy tăng 40% ở mặt cắt ngang, 77% ở mặt cắt đứng; mật độ cá thể tăng gấp 6,7 lần so với trước khi thả (đạt 1.812 cá thể/400 m²). Rong biển và san hô mềm phát triển bám trên các khối bê tông rạn, thu hút nhiều đàn cá đáy và cá nổi đến cư trú. Đồng thời, các khối rạn đóng vai trò chướng ngại vật cơ học ngăn cản triệt để tàu lưới kéo cào đáy tại khu vực này.

5. Vì sao nghề lồng bẫy ghẹ cải tiến được chọn để chuyển đổi cho ngư dân ven bờ?

Nghề lồng bẫy ghẹ cải tiến sử dụng lưới bao mắt lưới $2a = 80\text{ mm}$ có tính chọn lọc cao, tỷ lệ bắt ghẹ non dưới 15% (đúng quy chuẩn Thông tư 02/2006/TT-BTS), không làm phá hủy đáy biển. Về mặt kinh tế, lồng bẫy cải tiến có tuổi thọ từ 2,5 – 3 năm (gấp 3 lần lồng truyền thống), năng suất đánh bắt cao hơn 1,5 lần và đem lại lợi nhuận, thu nhập thuyền viên vượt trội, phù hợp với năng lực đầu tư và tập quán đánh bắt của ngư dân địa phương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Viết Tích là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về thực trạng kỹ thuật - kinh tế của 6 nhóm nghề khai thác và công tác quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam. Luận án đã làm rõ nguyên nhân suy giảm nguồn lợi ven bờ do mất cân đối cường lực và sử dụng ngư cụ chọn lọc thấp, đồng thời xây dựng thành công hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ. Trong đó, mô hình chuyển đổi nghề lồng bẫy ghẹ chọn lọc và mô hình thả rạn nhân tạo tại Mũi Bàn Than đã được kiểm chứng thực nghiệm mang lại hiệu quả kinh tế và sinh thái rõ rệt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn trực tiếp cho công tác quy hoạch, quản lý nghề cá bền vững tại tỉnh Quảng Nam và các vùng biển duyên hải miền Trung.