Chương I: Tổng quan nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất. Chương II: Một số vấn đề lý luận cơ bản về nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất. Chương III: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng về kế toán tập hợp chi phí sản xuất xe khách K34 tại Công ty CP Cơ khí ô tô 3/2. Luan van Chương IV: Các kết luận và đề xuất với vấn đề nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất xe khách K34 tại Công ty CP Cơ khí ô tô 3/2.
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIÊN CỨU KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.Một số định nghĩa, khái niệm và lý thuyết về kế toán chi phí sản xuất trong DN sản xuất.1Khái niệm, định nghĩa Để nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất trước tiên phải tìm hiểu một số thuật ngữ mà kế toán tập hợp chi phí sản xuất sử dụng: Theo VAS 01( Mục 31) thì: Chi phí là tổng giá trị các lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Theo Luật kế toán Việt Nam, Chi phí sản xuất được định nghĩa: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động SXKD trong một thời kỳ nhất định như tháng, quí, năm. Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt thời kỳ tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về mặt bản chất chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất, kinh doanh.2 Một số lý thuyết kế toán chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất trong DNSX bao gồm nhiều nội dung kinh tế, công dụng, địa điểm phát sinh khác nhau.
Do đó để hạch toán đúng đắn chi phí sản Luan van xuất cần xác định những phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần tập hợp và xác định đối tượng tập hợp CPSX. Doanh nghiệp chỉ có thể tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất nếu xác định đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đặc điểm sản xuất, yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Xác định đối tượng tập hợp chi phí là thực sự cần thiết cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí cần căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, địa điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí, yêu cầu và trình độ quản lý của DN.
Từ những căn cứ nói trên, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm có thể là: Từng phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất hoặc toàn bộ doanh nghiệp, từng giai đoạn công nghệ hoặc toàn bộ quy trình công nghệ, từng sản phẩm, đơn đặt hàng, từng nhóm sản phẩm hoặc bộ phận, chi tiết sản phẩm. Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng quy định có tác dụng phục vụ tốt cho việc quản lý sản xuất, hạch toán kinh phí nội bộ, tính giá thành kịp thời, chính xác. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất. Trên cơ sở nội dung CPSX và đối tượng tập hợp CPSX, căn cứ vào đặc điểm hoạt động SX, vào quy trình công nghệ SX,…mà kế toán DNSX có thể lựa chọn phương pháp tập hợp CPSX theo phương pháp tập hợp CP trực tiếp hoặc phương pháp tập hợp CP gián tiếp.
+ Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Phương pháp này được áp dụng khi chi phí sản xuất có mối quan hệ trực tiếp với từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt. Phương pháp này đòi hỏi phải tổ chức ghi chép ban đầu Luan van đúng theo đối tượng, trên cơ sở đó kế toán tập hợp số liệu theo từng đối tượng liên quan và ghi trực tiếp vào sổ kế toán theo đúng đối tượng. Phương pháp tập hợp trực tiếp đảm bảo việc hạch toán chi phí sản xuất chính xác. + Phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp(còn gọi là phương pháp phân bổ gián tiếp) Là phương pháp áp dụng khi chi phí sản xuất có liên quan với nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất mà không thể tổ chức việc ghi chép ban đầu riêng biệt theo từng đối tượng được.
Theo phương pháp này doanh nghiệp phải tổ chức ghi chép ban đầu cho các chi phí sản xuất theo địa điểm phát sinh chi phí để kế toán tập hợp chi phí. Sau đó phải chọn tiêu thức phân bổ để tính toán, phân bổ chi phí sản xuất đã tập hợp cho các đối tượng có liên quan một cách hợp lý nhất và đơn giản nhất. Quá trình phân bổ chi phí gián tiếp gồm 2 bước: (+) Xác định hệ số phân bổ (H): Tổng số chi phí cần phân bổ Hệ số phân bổ = Tổng số tiêu thức phân bổ (+) Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tượng : Chi phí phân bổ cho Tiêu thức phân bổ của = x Hệ số phân bổ chi phí Từng đối tượng từng đối tượng Phương pháp kế toán CPSX: Việc lựa chọn phương pháp kế toán CPSX trong DN phải luôn phù hợp với yêu cầu quản lý hàng tồn kho của chính DN đó. Do vậy, để thực hiện kế toán CPSX doanh nghiệp có thể áp dụng một trong hai phương pháp sau: Luan van - Phương pháp kê khai thường xuyên: theo dõi và phản ánh thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình các khoản chi phí chi ra cho hoạt động SX.
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế để phản ánh. Chi phí SX là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh tại các PX, tổ, đội, bộ phận SX gắn liền với hoạt động SX chế tạo SP của DN. CPSX bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định, chi phí SX được phân thành 3 khoản mục chi phí cơ bản sau: - Chi phí NVLTT: bao gồm giá trị NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,… được xuất dùng trực tiếp để SXSP.
- Chi phí NCTT: là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp SXSP như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp SX. - Chi phí SXC: là các khoản CPSX ngoại trừ chi phí NVLTT và chi phí NCTT. Chi phí SXC bao gồm: chi phí nhân viên quản lý PX, chi phí CCDC phục vụ SX, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho SX, chi phí dịch vụ phục vụ SX,… 2. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước Từ việc nghiên cứu ta thấy kế toán CPSX là chỉ tiêu quan trọng được quan tâm hàng đầu trong các doanh nghiệp sản xuất, là khâu trọng tâm của tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp, nhận thức được tầm quan trọng của CPSX, nên mảng kế toán CPSX trong các DNSX là mảng đề tài được nhiều người lựa chọn để nghiên cứu.
Luan van Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu năm trước viết về kế toán CPSX trong DNSX, em thấy hầu hết các luận văn, chuyên đề của các khoá trước viết về đề tài này đều tập trung nghiên cứu kỹ về thực trạng kế toán CPSX trong đơn vị thực tập. Bên cạnh đó họ cũng chỉ ra những hạn chế trong tổ chức công tác kế toán CPSX ở đơn vị thực tập, như công tác tổ chức bộ máy kế toán; công tác tập hợp CPSX; công tác lập, lưu chuyển và quản lý chứng từ,….từ đó làm căn cứ để đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán CPSX. Song các luận văn, chuyên đề này đều chưa đề cập đến sự ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán CPSX trong DNSX như thế nào, việc tuân thủ chuẩn mực kế toán và áp dụng chế độ kế toán hiện hành ra sao? Do đó trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài họ không có căn cứ để nhận xét, so sánh và đánh giá công tác tổ chức kế toán CPSX ở đơn vị thực tập với các đơn vị khác và với xu hướng chung. Một số luận văn nghiên cứu vấn đề chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng có những kết quả đạt được như: Luận văn của Nguyễn Thị Phương Thu Trường ĐH Công Nghiệp với đề tài “Hoàn thiện kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP 199 ” em thấy luận văn này chỉ ra rất rõ cách thức tiến hành kế toán CPSX ở Công ty Công ty CP 199 từ việc tập hợp chứng từ ra sao đến việc vào sổ kế toán thế nào và còn có những dẫn chứng rất cụ thể.
Đồng thời cũng đưa ra những nhận xét về từng mảng của kế toán CPSX ở công ty và mức độ tuân thủ chế độ kế toán hiện hành, đưa ra những biện pháp cụ thể “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải dựa trên những chuẩn mực chung, và khi đưa ra những giải pháp hoàn thiện phải dựa trên những chuẩn mực chung mà bộ tài chính đã thông qua như áp dụng hệ thống phần mềm kế toán để tiết kiệm chi phí hệ thống chứng từ được luân chuyển và phân loại có hệ thống…ngoài ra nên thiết kế mẫu biểu tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh một cách hợp lý vừa Luan van đảm bảo gọn nhẹ, dễ thực hiện, vừa đảm bảo được sự đầy đủ trong cung cấp thông tin, thuận tiện đối chiếu, kế thừa giữa các sổ…”Tuy nhiên, luận văn lại không đưa ra cơ sở của những nhận xét trên như chế độ kế toán hiện hành ở Công ty,…? Do đó không có căn cứ để đánh giá công tác tổ chức kế toán CPSX ở Công ty này có phù hợp với xu thế chung hay không và có sự khác biệt gì so với các đơn vị khác. Không riêng gì luận văn của Nguyễn Thị Thu Phương mà còn có nhiều luận văn của các sinh viên ở các trường khác khi đi nghiên cứu về thực trạng kế toán CPSX trong DNSX cũng rơi vào tình trạng tương tự như trên như trong bài luận văn của Phạm Thị Hằng lớp HC10/21.