CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRATẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA 1. Một số khái niệm cơ bản về công tác thanh tra - Thanh tra: Theo thuật ngữ tiếng Anh – Inspect – xuất phát từ gốc Latinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”.
Theo từ điển tiếng Việt “kiểm soát, xem xét tại chổ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [22, tr. Khái niệm thanh tra được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Năm 1961, trong bài huấn thị về công tác thanh tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thanh tra là tai mắt của Đảng và Chính phủ, tai mắt sáng suốt thì người mới sáng suốt”. Theo Trần Kiểm (2004),“Thanh tra là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng duy trì các hoạt động của cơ quan hay của công chức bằng các hoạt động xem xét, thẩm định lại những hành vi của công chức, những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở những quy định pháp lí về quyền hạn, nhiệm vụ của cá nhân hoặc tổ chức được thanh tra” [10].
Về mặt pháp lý, theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010, thanh tra là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động thanh tra nhà nước. Thanh tra được hiểu là một chức năng thiết yếu của QLNN, là hoạt động kiểm tra, xem xét đánh giá của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi VPPL, giúp cơ quan, tổ chức cá nhân thực hiện đúng quy định pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân [12]. Theo đó: 6 - Thanh tra nhà nước: là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
- Thanh tra hành chính: là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. - Thanh tra chuyên ngành: là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực, đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỷ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. • Phân biệt giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành 7 Thanh tra hành chính Thanh tra chuyên ngành Mục đích hoạt động: tập trung Mục đích họat động: chủ yếu vào việc kiểm soát việc thực hướng tới việc kiểm soát hoạt hiện nhiệm vụ, công vụ của động chấp hành chính sách, pháp CB, CC và cơ quan nhà nước luật của mọi đối tượng xã hội làm lành mạnh hoá bộ máy nhà nhằm phục vu hiệu quả hoạt nước động quản lý nhà nước Chủ thể tiến hành: là các thủ Chủ thể tiến hành: là các cơ trưởng cơ quan quản lý nhà quan nhà nước quản lý theo nước theo cấp hành chính và cơ ngành, lĩnh vực như thanh tra quan thanh tra theo cấp hành bộ, thanh tra sở, thanh tra cục, chính như: thanh tra chính phủ, tổng cục và chi cục thuộc sở. thanh tra tỉnh, thanh tra huyện.
Hình thức thanh tra: Hoạt Hình thức thanh tra: Hoạt động thanh tra chuyên ngành động thanh tra hành chính chỉ có thể được thực hiện thông được thực hiện thông qua Đoàn qua Đoàn thanh tra chuyên thanh tra. Hoạt động thanh tra ngành , thanh tra viên hoặc theo chương trình, kế hoạch người được giao nhiệm vụ thanh tra và thanh tra đột xuất thanh tra chuyên ngành. khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Nguyên tắc tiến hành hoạt động thanh tra: Thanh tra Nguyên tắc tiến hành hoạt chuyên ngành phải được tiến động thanh tra: Trung thực, hành thường xuyên, gắn liền khách quan, chính xác, công với việc thực hiện nhiệm vụ về khai, dân chủ, kịp thời, không chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp trùng lặp về phạm vi, thời gian, vụ, phát hiện, ngăn chặn và xử đối tượng thanh tra, không làm lý kịp thời các hành vi vi phạm cản trở hoạt động bình thường pháp luật của đối tượng thanh tra Đối tượng của hoạt động Đối tượng của hoạt động thanh thanh tra chuyên ngành: bao tra hành chính: hướng tới đối gồn các cơ quan , tổ chức, cá tượng trong bộ máy, người thuộc nhân hoạt động trong lĩnh vực quyền quản lý trực tiếp của thủ quản lý của các ngành trưởng Trình tự thủ tục thanh tra Trình tự, thủ tục thanh tra hành chính: chỉ được tiến hành chuyên ngành: được thực hiện theo Đoàn, gồm có Trưởng đoàn qua đoàn thanh tra hoặc cá nhân và thành viên đoàn, hoạt động được giao nhiệm vụ thanh tra theo trình tự được pháp luật quy nhằm kịp thời xử lý ngay các tình định hành vi vi phạm pháp luật Sơ đồ 1. Phân biệt thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành 8 1.
Đặc điểm chung của công tác thanh tra [21] - Thứ nhất, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu và phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước. Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước và thanh tra có cái chung là sử dụng quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên đối tượng bị quản lý. Song, xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý nhà nước thì thanh tra chỉ là những công cụ, phương tiện để quản lý nhà nước.
Là một trong chu trình quản lý nhà nước nhưng đồng thời tác động trở lại, góp phần điều chỉnh các cách thức, phương pháp quản lý của chủ thể quản lý. Một thể chế hành chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ nếu thiếu thanh tra. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tùy tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước. Lê nin đã nhiều lần nhấn mạnh: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ hạn chế được nguy cơ tham nhũng, tệ quan liêu, tăng cường được kỷ cương xã hội khi những người cộng sản thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm soát”.[23] - Thứ hai, thanh tra luôn mang tính quyền lực nhà nước.
Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ các cơ quan thanh tra đều có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện quyền hạn đó. Cụ thể: - Ra quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tượng bị thanh tra trong việc sửa chữa những thiếu sót đã bị thanh tra phát hiện. - Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, kể cả việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy tố trước pháp luật. - Trong một số trường hợp trực tiếp áp dụng các biện pháp xử lý mang tính cưỡng chế nhà nước.
Không nên cho rằng hoạt động thanh tra là hoạt động mang tính cưỡng chế vì như thế là đồng nhất với quyền lực và cưỡng chế. Cưỡng chế chỉ là một yếu tố 9 đặc biệt và chỉ trường hợp cần thiết khi sử dụng quyền lực nhà nước mà thôi. Thanh tra là hoạt động thường xuyên, thiết thực, có tính sáng tạo, ngày càng được mở rộng và có tính rộng khắp, mang tính dân chủ sâu sắc. Do đó, nói đến quyền lực nhà nước trong hoạt động thanh tra không có nghĩa là trong hoạt động thanh tra chỉ sử dụng biện pháp cưỡng chế.
Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra phải được cụ thể hóa trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa các cơ quan thanh tra với đối tượng được thanh tra, sự phối hợp giũa các tổ chức thanh tra theo cấp hành chính và thanh tra theo ngành, theo lĩnh vực. Nếu cụ thể hóa một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực trên đều dẫn đến hạ thấp vai trò và hiệu quả của hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động, nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua các cơ quan nhà nước do mình bầu ra (trực tiếp hay gián tiếp). Do đó, nói tính chất nhân dân tham của thanh tra, kiểm tra là xác định vai trò to lớn của quần chúng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình thanh tra.
Đây là điều kiện đảm bảo thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. - Thứ ba, tính khách quan và độc lập tương đối của thanh tra. Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng của bộ máy quản lý nhà nước.
Ngoài những nhiệm vụ trên, những cơ quan quản lý nhà nước khác, tổ chức và hoạt động thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan. Tính khách quan và độc lập tương đối trong quá trình thanh tra được thể hiện trên các đặc điểm sau: - Tuân theo pháp luật. - Tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định. - Khách quan trong quá trình thanh tra.
Mặc dù bản thân hoạt động thanh tra thông qua con người, mang yếu tố chủ quan, nhưng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thanh tra là luôn tôn trọng sự thật khách quan. 10 - Ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về kết quả của hoạt động thanh tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình.