CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm của cho thuê quyền sử dụng đất 1. Giao dịch quyền sử dụng đất 1.
Khái niệm và đặc điểm của giao dịch quyền sử dụng đất Giao dịch theo quy định của pháp luật về dân sự, thì được hiểu là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên chủ thể, trong khi đó hành vi pháp lý đơn phương là hành vi của một chủ thể. Cả hai dạng này đều có mục đích pháp lý là làm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia trong việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản, các lợi ích khác, làm hay không làm một việc1. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt.
Tính đặc biệt của nó xuất phát từ chế độ sở hữu đất đai ở nước ta là sở hữu toàn dân. Hiến pháp và Luật Đất đai hiện hành đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”2. Sở hữu, hiểu về bản chất, là mối quan hệ giữa người với nhau trong việc chiếm dụng, quản lý, định đoạt các vật phẩm tự nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của bản thân và toàn xã hội 3. Còn về pháp lý, thì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật 4.
Như vậy để thực hiện các quyền năng này đối với đất đai trong chế độ sở hữu toàn dân, buộc phải thông qua một chủ thể cụ thể, đó là Nhà nước. Nhà nước với tư cách là “bộ máy quyền lực đặc biệt, được tổ chức chặt chẽ để thực thi chủ quyền quốc gia, tổ chức và quản lý xã hội bằng pháp luật, phục vụ lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội và thực thi các cam kết quốc tế”5 sẽ thực hiện các quyền năng của một chủ sở hữu thực thụ. Đất đai, không một ai có thể phủ nhận sự quan trọng của nó. Đất đai là một tư liệu sản xuất, một tư liệu tiêu dùng không thể thay thế mà thiên nhiên ban tặng.
Trong sản xuất, cùng với sức lao động, tiền vốn thì đất đai là một tư liệu đầu vào 1 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr. 2 Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; Điều 4 Luật Đất đai (Luật số 45/2013/QH13) ngày 29-11-2013. 3 Lưu Quốc Thái (2016), Những vấn đề pháp lý về thị trường quyền sử dụng đất Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.
4 Điều 164 Bộ luật Dân sự 2005 (tương ứng với Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015). 5 Trường đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr. 5 không thể thiếu. Trong sinh hoạt, con người cần đất để phục vụ các nhu cầu thiết yếu như ăn ở, giải trí, tín ngưỡng…Đối với một quốc gia, thì đất đai là cơ sở vất chất để tạo nên lãnh thổ và thực hiện chủ quyền Nhà nước.
Trong môi trường, một trong các yếu tố quan trọng để cấu thành môi trường sống cho các loài sinh vật là đất đai. Và đất đai lại là một tài nguyên có giới hạn và không thể tái sinh, trong khi nhu cầu về đất là đặc biệt lớn. Mặt khác, đất đai chịu sự chi phối bởi tính cố định về không gian. Chúng ta không thể làm ra đất đai cũng như đem đất ở nơi dư thừa để bù đắp sự thiếu hụt ở nơi khác được.
Do đó mà nhu cầu sở hữu đất đai được xem như một nhu cầu mang tính thiết yếu tự nhiên và sở hữu nó là một cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người6. Chính vì thế mà quan hệ sở hữu đất đai được xem là mối quan hệ mang tính nền tảng của xã hội.Mác khi nghiên cứu các xã hội, cũng đã rút ra kết luận rằng: “Sở hữu ruộng đất, nguồn gốc đầu tiên của mọi của cải, đã trở thành vấn đề lớn, mà việc giải quyết sẽ quyết định tương lai của giai cấp công nhân”7. Việc phân bổ đất đai là vấn đề hết sức quan trọng của mọi xã hội, nó quyết định lợi ích, sự công bằng đối với từng người dân, quyết định đến sự tồn vong của một chế độ chính trị. Vậy nên, Nhà nước ta, chủ sở hữu duy nhất về đất đai khi thực hiện quyền sở hữu của mình phải thực sự phù hợp.
Nhà nước bao gồm hệ thống các cơ quan từ trung ương đến địa phương, khi thực hiện quyền sở hữu thì không thể tự mình trực tiếp khai thác, sử dụng đất được. Mặt khác, đất đai quan trọng và thiết yếu là vậy nên buộc chủ sử hữu duy nhất của đất đai là Nhà nước phải sản sẻ quyền năng đối với đất đai của mình cho các chủ thể khác, cho nhân dân. Khi chuyển giao đất đai cho người khác, Nhà nước không thể chuyển giao tất cả quyền năng của chủ sở hữu được, bởi nếu làm thế thì các chủ thể khác sẽ trở thành chủ sở hữu đất đai là trái với chế độ sở hữu đất đai toàn dân của nước ta. Do đó mà Nhà nước chỉ chuyển giao đất cho các chủ thể sử dụng và các chủ thể này được gọi là người sử dụng đất.
Theo pháp luật về dân sự thì quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản8. Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung thêm quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật9. Nếu chỉ hiểu quyền sử dụng đất giống với quyền sử dụng một tài sản thông thường như pháp luật dân sự thì hẹp, bởi vì người sử dụng đất không chỉ được chuyển giao quyền khai thác công dụng của đất mà có thể chuyển giao luôn toàn bộ quyền và nghĩa vụ trong việc sử dụng đất cho người khác. Quyền sử dụng đất sau khi được Nhà nước chuyển giao bao gồm quyền 6 Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.Ănghen, Tuyển tập (1983), tập V, Nhà xuất bản Hà nội, tr. 8 Điều 192 Bộ Luật Dân sự 2005. 9 Điều 189 Bộ luật Dân sự 2015. 6 được khai thác đất và quyền được giao dịch theo đúng nội dung và cách thức mà pháp luật quy định.
Tùy theo cách Nhà nước chuyển giao quyền sử dụng đất thì người nhận quyền có thể phải trả tiền để có được quyền sử dụng đất. Như vậy, với đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân, thì cái mà có thể đem ra giao dịch chỉ là quyền sử dụng đất, chứ không thể là đất đai. Nội dung quyền sử dụng đất cũng đã đủ để đáp ứng được nhu cầu về đất đai trong nhân dân và thông qua quan hệ thị trường, quyền sử dụng đất cũng sẽ được luân chuyển theo các quy luật khách quan của thị trường. Điều này là cần thiết trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập ở nước ta hiện nay.
Như vậy, giao dịch quyền sử dụng đất là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương của người sử dụng đất làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong việc sử dụng đất. Giao dịch quyền sử dụng đất thể hiện sự định đoạt quyền sử dụng đất thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp và góp vốn. Mặc dù quyền định đoạt quyền sử dụng đất đã chính thức được quy định cho người sử dụng đất khá lâu, từ Hiến pháp năm 1992, tuy nhiên, pháp luật về đất đai kể cả trước kia cũng như bây giờ đều không sử dụng cụm từ này mà liệt kê các hình thức giao dịch người sử dụng đất được thực hiện. Do đó mà không có một sự giải thích chính thức nào về giao dịch quyền sử dụng đất.
Đến Luật Đất đai 2013 mới nhất cũng chỉ giải thích về chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất10. Tại các Điều luật quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thì có quy định người sử dụng đất còn được cho thuê, cho thuê lại, thế chấp quyền sử dụng đất, không được xếp vào hành vi chuyển quyền. Như vậy, tất cả các hành vi trên của người sử dụng đất, bao gồm cả chuyển quyền và không chuyển quyền sử dụng đất đều là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất nên được gọi chung là giao dịch quyền sử dụng đất.2 Phân loại giao dịch quyền sử dụng đất Giao dịch quyền sử dụng đất bao gồm nhiều hình thức định đoạt khác nhau. Căn cứ vào hậu quả pháp lý của giao dịch, có thể chia các hình thức này thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất là các hình thức giao dịch có sự chuyển giao hoàn toàn quyền sử dụng đất.
Nhóm này bao gồm các hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất. Trước đây, Bộ luật Dân sự 1995 quy định chuyển 10 Khoản 10 Điều 3 Luật Đất đai 2013. 7 quyền sử dụng đất gồm năm hành vi là chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất đồng bộ với quy định của Luật Đất đai năm 1993. Đến Bộ luật Dân sự 2005 cũng có quy định chuyển quyền sử dụng đất tương tự như trước và có bổ sụng thêm hai hành vi là tặng cho, góp vốn quyền sử dụng đất do sự bổ sung của Luật đất đai 2003.
Tuy nhiên, bản chất của hành vi chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao hoàn toàn quyền sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ thể khác làm thay đổi tư cách người sử dụng đất. Do đó mà hai hành vi cho thuê và thế chấp không đáp ứng sự chuyển giao hoàn toàn quyền sử dụng đất nên quy định như trên là chưa phù hợp. Nhận thức được điều đó, Luật Đất đai 2013 đã quy định rõ chuyển quyền sử dụng đất chỉ bao gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế và góp vốn quyền sử dụng đất.