Chương 1 tác giả sẽ đi sâu phân tích dưới góc độ thực tiễn pháp luật về giao dịch về quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng toàn bộ và giao dịch về quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng một phần hiện nay. Việc xác định giao dịch về quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng toàn bộ và giao dịch về quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng một phần có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của giao dịch trong trường hợp vi phạm quy định của pháp luật về hạn mức sử dụng đất là vô hiệu toàn bộ hay chỉ vô hiệu đối với phần diện tích đất vượt quá. Giao dịch về quyền sử dụng đất với toàn bộ diện tích vượt quá diện tích sử dụng Căn cứ theo quy định tại Điều 167 LĐĐ năm 2013 về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất thì: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển 3 Phạm Tú Tài, “Chính sách hạn điền ở Việt Nam hiện nay – Vấn đề và khuyến nghị”, https://sti. vn/tw/Lists/TaiLieuKHCN/Attachments/268224/CVv355S2732018032.pdf, truy cập ngày 21/6/2022.
4 Doãn Hồng Nhung (2018), “Chế định sở hữu đất đai qua các thời kỳ và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai”, Tạp chí Kiểm sát, https://tks.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/120/502, truy cập ngày 22/5/2022. 12 đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng là quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt quá diện tích đất nông nghiệp tối đa mà hộ gia đình, cá nhân được phép giao dịch theo quy định của pháp luật về đất đai. Một giao dịch về quyền sử dụng đất nông nghiệp được xác định vượt quá hạn mức sử dụng khi giao dịch chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và góp vốn quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt quá diện tích đất nông nghiệp tối đa mà hộ gia đình, cá nhân được phép giao dịch theo quy định của pháp luật về đất đai.
Theo khoản 1 Điều 130 LĐĐ năm 2013 quy định: “Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 của Luật này. Như vậy, giao dịch về quyền sử dụng đất nông nghiệp được xác định vượt quá hạn mức sử dụng khi giao dịch chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và góp vốn quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 của LĐĐ năm 2013. Điều 44 Nghị định 43/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014 hướng dẫn chi tiết về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân. Theo quy định tại Điều 129 LĐĐ năm 2013 thì hạn mức giao đất nông nghiệp được quy định như sau: “1.
Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp như sau: a) Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; b) Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi. Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 héc ta đối với mỗi loại đất: a) Đất rừng phòng hộ; b) Đất rừng sản xuất…” Có quan điểm cho rằng việc quy định hạn mức làm ảnh hưởng đến hoạt động phát triển sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn, chuyên môn hóa, áp dụng khoa học kĩ thuật trong canh tác. Tuy nhiên xem xét kĩ có thể thấy việc quy định hạn mức là cần thiết và mang nhiều ý nghĩa: Một là, Nhà nước giao đất cho người dân trong đó có quyền thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, để duy trì việc làm cho người nông dân và đảm bảo công bằng thì cần phải có quy định về hạn mức giao đất cho từng hộ gia đình, cá nhân trên cơ sở quỹ đất nông nghiệp ở từng địa phương.
Hai là, việc tích tụ đất đai để hình thành nên các trang trại có quy mô xuất lớn đã trở thành nhu cầu tất yếu. Quy định về hạn mức giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân không chỉ dừng lại ở việc giải quyết việc làm, đảm bảo công bằng mà còn đảm bảo, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, Nhà nước tham gia điều tiết các mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp để hoàn thành mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa. Các quy định của pháp luật về đất đai hiện nay còn gây khó khăn trong việc xác định như thế nào là “Giao dịch về quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng”.
Đồng thời, gây ra nhiều cách hiểu không thống nhất trong hoạt động xét xử của Toà án và hoạt động nghiên cứu pháp luật nói chung. Điều này cũng gây ra những khó khăn, nhầm lẫn trong việc xác lập giao dịch về quyền sử dụng đất của các chủ thể tham gia giao dịch. Tác giả xin nêu Ví dụ 1 về giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng để làm cơ sở phân tích như sau: 14 Ngày 15/02/2001, nguyên đơn là bà Lâm Thị Xứng được bà Mở giới thiệu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 8.232m2 đất tọa lạc tại ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh của vợ chồng ông Phạm Văn Vói, bà Nguyễn Thị Hòa với giá 318. Bà đã trả đủ tiền cho vợ chồng ông Vói, bà Hoà, vợ chồng ông Vói, bà Hoà giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà trong cùng ngày và thỏa thuận bà có nghĩa vụ làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất nêu trên.
Tuy nhiên, sau đó bà được biết là đất nằm trong khu quy hoạch nên chưa được sang tên chuyển quyền sử dụng đất. Đến năm 2009, Nhà nước làm tỉnh lộ 786 giải tỏa đền bù diện tích 3.249,3m2 đất, do chưa sang tên được nên theo Quyết định số 823/QĐ- UBND ngày 25/02/2010 và Quyết định 844/QĐ- UBND ngày 01/3/2010 của UBND huyện Bến Cầu vẫn bồi thường cho ông Với và bà Hòa với số tiền đền bù là 2. Do vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Vói, bà Hoà có nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên; yêu cầu cho bà được nhận số tiền bồi thưởng việc thu hồi đất. Tại Bản án dân sự sơ thẩm, Tòa án quyết định chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Xứng.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm, Tòa án quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn Vói và bà Nguyễn Thị Hòa. Toà án cấp giám đốc thẩm nhận định: “[2. Điều 44 LĐĐ 1993 quy định về hạn mức đất nông nghiệp của cá nhân như sau: “Hạn mức đất nông nghiệp trồng cây hàng năm của mỗi hộ gia đình là không quá 03ha do Chính phủ quy định cụ thể đối với từng địa phương”. Ông Vói, bà Hòa cho rằng tại thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông bà, bà Xứng đã đã nhận chuyển nhượng trên 03 ha.
Tuy nhiên, do hồ sơ chuyển nhượng đất giữa bà Xứng với vợ chồng ông Vói không được cấp có thẩm quyền xác nhận theo quy định, nên không xác định được diện tích đất nông nghiệp bà Xứng đang sử dụng là bao nhiêu. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa làm rõ nội dung này là thiếu sót”5. Như vậy, theo quan điểm của Toà án cấp giám đốc thẩm thì căn cứ theo quy định của pháp luật, hạn mức đất nông nghiệp trồng cây hàng năm của mỗi 5 Quyết định giám đốc thẩm số 174 /2020/DS-GDT ngày 24/8/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. 15 hộ gia đình là không quá 03 ha do Chính phủ quy định cụ thể đối với từng địa phương.
Nếu như lời khai của ông Vói, bà Hòa cho rằng tại thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông bà, bà Xứng đã đã nhận chuyển nhượng trên 03 ha là đúng thì bà Xứng không thể nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên vì đã vượt quá hạn mức sử dụng của hộ gia đình theo đó không được quá 03 ha. Theo quan điểm của tác giả, nếu trong trường hợp tại thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà Xứng đã nhận chuyển nhượng trên 03 ha, vì diện tích đất của bà Xứng trước khi nhận chuyển nhượng đã vượt quá hạn mức nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, cụ thể đã vượt quá 03 ha do Chính phủ quy định cụ thể đối với từng địa phương. Do đó, giao dịch về quyền sử dụng đất giữa bà Xứng và ông Vói, bà Hòa đối với diện tích 8.232m2 đất tọa lạc tại ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh sẽ khiến diện tích đất của bà Xứng vượt quá rất nhiều so với hạn mức sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân theo quy định của pháp luật. Vì giao dịch giao dịch về quyền sử dụng đất giữa bà Xứng và ông Vói, bà Hòa đối với diện tích 8.232m2 là giao dịch hoàn toàn vượt quá hạn mức sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật nên bà Xứng không thể nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp và dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng sẽ không phát sinh hiệu lực đối với các bên vì đã vượt quá hạn mức sử dụng của hộ gia đình, cá nhân.
Tuy nhiên, có thể thấy việc không công nhận hiệu lực của giao dịch trên là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Xứng và các chủ thể tham gia giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tính chất tương tự.