CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHMER VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC Ở AN GIANG 1. TỔNG QUAN VỀ TỈNH AN GIANG VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER 1. Tổng quan về tỉnh An Giang An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long là tỉnh biên giới có nhiều dân tộc và tôn giáo. Phía Đông và phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; phía Tây Bắc giáp với Vương quốc Campuchia có cùng đường biên giới gần 100km; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang; phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.406 km2, bằng 1,05% diện tích của cả nước và bằng 8,71% diện tích toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (đứng thứ tư trong vùng), trong đó 80% là đất nông nghiệp, 20% là vùng núi. An Giang là tỉnh duy nhất của vùng đồng bằng sông Cửu Long có cả đồng bằng, rừng núi và tài nguyên khoáng sản. Nằm trong vùng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long, An Giang có thế mạnh về sản xuất lúa gạo, thuỷ sản, kể cả khai thác khoáng sản và đá. Là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông 11 đường thủy rất thuận tiện và hệ thống đường bộ đang được nâng cấp, mở rộng.
Giao thông chính của tỉnh là một phần mạng lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế. Quốc lộ 91 và các sông Tiền, sông Hậu là những tuyến giao thông quan trọng nối cả đồng bằng sông Cửu Long với các nước Campuchia, Lào, Thái Lan thông qua hai cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và Vĩnh Xương. Yếu tố đó đã tạo lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập của nền kinh tế An Giang với các tỉnh trong nước, ngoài nước; nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Những điều kiện đó đã giúp cho An Giang phát triển tương đối đa dạng về kinh tế và văn hoá.
Đồng thời, cũng là một trọng điểm phòng thủ quốc gia ở biên giới Tây Nam của nước ta. Trong sản xuất nông nghiệp, An Giang có sản lượng lúa đứng đầu trong khu vực (hơn 3 triệu tấn năm 2004); sản lượng khai thác thuỷ sản đứng thứ ba. Riêng về thủy sản, đặc biệt là thuỷ sản nuôi trồng, nếu tính theo địa phương thì đây là tỉnh có sản lượng lớn nhất toàn quốc: năm 2003 là 136.825 tấn, chiếm 14,2% cả nước [29]. An Giang còn có lợi thế phát triển du lịch, bao gồm du lịch văn hóa và du lịch sinh thái.
Về du lịch văn hóa, An Giang có những di tích thu hút khách du lịch như Đền bà Chúa xứ- di tích cấp quốc gia, lăng Thoại Ngọc Hầu, đình thờ Nguyễn Hữu Cảnh, công viên điêu khắc (tập hợp các tác phẩm điêu khắc của nhiều nhà điêu khắc quốc tế trong 2 đợt hội trại điêu khắc đá quốc tế tổ chức tại tỉnh). Hàng năm, nhất là vào dịp vía bà Chúa Xứ (tháng 4 âm lịch) có hàng trăm ngàn người đến viếng, là tiềm năng phát triển du lịch nội địa và An Giang cũng đón khoảng 30 ngàn khách nước ngoài đến tham quan du lịch. Về du lịch sinh thái có du lịch trên sông Châu Đốc, du lịch trong mùa nước nổi, khu sinh thái Bảy Núi với thắng cảnh Tức Dụp, khu du lịch Núi Cấm và đặc biệt là tiềm năng của khu du lịch suối vàng nằm dưới chân Núi Tô thuộc huyện Tri Tôn với một hệ thống liên hoàn các dòng suối đã hình thành nên những bãi tắm tự nhiên đang kêu gọi vốn đầu tư để xây dựng nơi đây thành điểm du lịch sinh thái nổi tiếng của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Theo niên giám thống kê 2005, tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm : thành phố Long Xuyên là trung tâm hành chính của tỉnh, thị xã Châu Đốc và 9 12 huyện (Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ đã công nhận 21 xã vùng núi thuộc 2 huyện Tri Tôn (9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) theo Quyết định 42/UBQĐ ngày 23 tháng 05 năm 1997 và công nhận khu vực vùng dân tộc đồng bằng gồm: xã Lương An Trà huyện Tri Tôn và 5 xã: Đa Phước, Khánh Bình, Quốc Thái, Nhơn Hội,Vĩnh Trường của huyện An Phú theo Quyết định 21/1998/UBQĐ ngày 25 tháng 02 năm 1998).
Có 17 xã biên giới thuộc 5 huyện, thị giáp Campuchia. Dân số toàn tỉnh là 2.429 người, là vùng đất quần cư của nhiều tộc người anh em gắn bó nhau từ thời mở đất, ngoài người Kinh, ở An Giang còn có trên 100.000 người dân tộc ít người như: Khmer, Chăm, Hoa sống xen kẽ với người Kinh. Đây là những thành phần tộc người cơ bản trong dân số của tỉnh An Giang, tạo nên một cộng đồng đa tộc người, là nhân tố quyết định tình hình phát triển kinh tế –văn hoá –xã hội và bảo vệ quê hương, Tổ quốc. Một số nét khái quát về người Khmer tỉnh An Giang.
Người Khmer sinh sống ở An Giang có những nét khác biệt khá rõ về các mặt ngôn ngữ và đời sống văn hoá tinh thần so với người Khmer ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh do địa bàn cư trú ở vùng biên giới Việt-Campuchia. Trong suốt lịch sử khai hoang vùng đất An Giang, người Khmer cùng sinh sống với tộc người Kinh, Chăm, Hoa, cùng sáng tạo những giá trị văn hoá độc đáo hình thành bản sắc riêng cho tiểu vùng văn hoá đồng bằng sông Cửu Long. Sự cộng cư giữa các tộc người trong quá trình lịch sử lâu dài này đã làm cho văn hoá của người Khmer An Giang vừa có những nét truyền thống giống với người Khmer ở Campuchia đồng thời hình thành những giá trị văn hoá mới. Người Khmer An Giang có đời sống văn hoá vật chất và tinh thần phong phú.
Về văn hoá vật chất, được thể hiện trong các công trình kiến trúc, trang phục, ẩm thực, công cụ sản xuất… Đời sống tinh thần của người Khmer An Giang rất đa dạng. Đó là hệ thống triết lý về vũ trụ nhân sinh gắn liền với Phật giáo Tiểu thừa, là các lễ hội, lễ nghi thờ cúng tổ tiên, các trò chơi dân gian, các loại hình dân ca và nghệ thuật sân khấu dân gian. Trong 13 thập niên gần đây, đời sống của người Khmer An Giang đã có những thay đổi tích cực và điều này cũng thúc đẩy đời sống văn hóa của họ phong phú thêm. - Địa bàn cư trú và dân số: Tại tỉnh An Giang, người Khmer cư trú tập trung tại hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thuộc vùng Bảy Núi.
Đây là hai huyện miền núi-dân tộc và là hai huyện có đường biên giới với nước bạn Campuchia.Về mặt hành chánh, tổng số xã của hai huyện này là 27 xã (tổng diện tích tự nhiên của hai huyện là 94.400 hecta) thì 15 xã có người Khmer sinh sống thành những cộng đồng. Trong đó có một số xã dân số người Khmer chiếm đến 80% dân số của xã như trường hợp của xã Châu Lăng, Núi Tô, An Tức, Ô Lâm thuộc huyện Tri Tôn và Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Cư, An Hảo thuộc huyện Tịnh Biên. Ngoài ra, người Khmer còn sinh sống trong một số phum, sóc thuộc các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, và Châu Phú. Theo thống kê năm 2004 thì toàn tỉnh An Giang có 20.140 hộ người Khmer với gần 90 ngàn dân, trong đó huyện Tri Tôn có 54.794 người (chiếm 47% tổng dân số toàn huyện và chiếm gần 60% dân số người Khmer trong tỉnh) và Tịnh Biên có 32.
Sống gần vùng biên giới nước bạn Campuchia nên người Khmer ở An Giang, đặc biệt là ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên vốn đã có những quan hệ khá gần gũi với người Khmer ở Campuchia. Họ thường xuyên qua lại biên giới để buôn bán, đi tìm việc làm, thăm thân nhân, dựng vợ gã chồng hoặc học Phật pháp…. Mối quan hệ đa dạng này vốn đã hình thành từ lâu đời và hiện vẫn đang diễn ra một cách mạnh mẽ khi mà quan hệ đoàn kết giữa hai quốc gia Việt Nam và Campuchia ngày càng được hai Chính phủ đặt lên tầm chiến lược. Tuy nhiên, đây cũng là nơi để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa hai quốc gia và giữa người Khmer sống ở bên này và bên kia biên giới.
Do đó, đây không những là nơi giàu tiềm năng khoáng sản, có nhiều đồi núi, chùa tháp và các khu du lịch, di tích lịch sử, mà còn là địa bàn chiến lược quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng ở phía Tây Nam của Tổ quốc. 14 Năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam nỗ ra, do yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ an ninh tổ quốc trong thời điểm đó (tháng 3/1979), Nhà nước ta có chủ trương di dời nhằm bảo vệ bà con người Khmer ở giáp biên về tỉnh Hậu Giang cũ, nên phần lớn đồng bào Khmer ở Bảy Núi được đưa xuống Sóc Trăng sinh sống. Sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, phần lớn đồng bào Khmer về lại nơi cư ngụ cũ. Đời sống của người Khmer trước đó vốn đã khó khăn thì sau khi di dời và trở về quê cũ lại càng khó khăn hơn.
Trong thời gian lánh cư tại Sóc Trăng và sau khi trở về quê cũ ở An Giang mặc dù Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, giải pháp quan tâm giúp đỡ người Khmer An Giang khắc phục hậu quả chiến tranh để ổn định nhà cửa, tổ chức lại sản xuất nhưng nhìn chung đời sống của đồng bào người Khmer tại Tri Tôn và Tịnh Biên vẫn chưa được khả quan. Do dời đi, dời lại cho nên đồng bào Khmer An Giang đã gặp rất nhiều khó khăn về vật chất cũng như tinh thần trên con đường mưu sinh và phát triển. - Sinh hoạt kinh tế : Người Khmer An Giang sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Do ảnh hưởng qua lại với các cư dân cùng cộng cư, do hoàn cảnh tự nhiên của nơi cư trú, người Khmer An Giang ngày càng có những đặc thù khác biệt với người đồng tộc ở bên kia biên giới Việt Nam- Campuchia với những phương thức sản xuất tiến bộ hơn [68, tr.
Cũng như nhiều tộc người anh em khác, họ có kinh nghiệm, tập quán thâm canh lúa nước lâu đời và canh tác trên các cánh đồng ruộng cao (sre lơ). Ngoài ra họ còn làm rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, một số ít làm nghề thủ công truyền thống như: dệt vải, làm gốm, làm đường thốt nốt. Hơn 90% các hộ Khmer chuyên sống bằng sản xuất nông nghiệp và gần như toàn bộ đất đai của họ đều dành cho việc trồng lúa và hoa màu.