CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VÈ DỊCH VỤ THE CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Khái niệm ngân hàng thương mại (NHTM) đã được hình thành từ thế kỷ XV với hình thức sơ khai ban đầu với hai chức năng cơ bản là cho vay tiền và gửi tiền. Đi lên cùng nền tảng phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế hàng hóa, chức năng của ngân hàng mở rộng ra như Tài trợ thương mại, Bảo lãnh tín dụng, Internet banking.
Theo Luật các tổ chức tín dụng: “NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt đông ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật” (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) ‘Theo Lugt Ngân hàng nhà nước: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.” Các quan điểm hiện nay về NHTM đã có rất nhiều khái niệm cụ thể như: Theo định nghĩa của chuyên trang đầu tư Investopedia: Một ngân hàng thương mại (Commercial Banking) là một loại hình tổ chức tài chính chấp nhận tiền gửi, cung cấp các dịch vụ kiểm tra tải khoản, kinh doanh, cho vay cá nhân và cho vay thế chấp và cung cấp các sản phẩm tài chính cơ bản như chứng chỉ tiền gửi (Certificates of Deposit) va tai khoản tiết kiệm cho cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Một ngân hàng thương mại là nơi hầu hết mọi người làm ngân hàng của họ, trái ngược với một ngân hàng đầu tư (Investment Banking). Theo định nghĩa của chuyên trang tin tức thị trường Marketbusinessnews com thì cho rằng: Một NHTM đóng vai trò là tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài khoản tiền gửi, vãng lai và tiết kiệm. Một tài khoản vãng lai giống như một tài khoản séc.
Một ngân hàng thương mại phục vụ cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. Nó cũng cho vay tiền. Ở Anh, người ta cũng gọi nó là một ngân hàng đường phố (high street bank). Thuật ngữ này vẫn khá mơ hồ.
Một số định nghĩa cho rằng một ngân hàng. thương mại là một bộ phận của ngân hàng chỉ liên quan đến hoạt động kinh doanh của các công ty bên cạnh chức năng ngân hàng đầu tư. Ở Việt Nam, Ngân hàng thương mại có thể hiểu theo định nghĩa như sau: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, huy động tiền gửi từ trong. dân chúng, sử dụng tiền đó vào mục đích cho vay lại hoặc đem kinh doanh sinh lời, có nghĩa vụ hoàn trả cho khách hàng bất cứ khi nào theo yêu cài.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và sử dụng các sản phẩm dịch vụ của mình làm phương tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là các tổ chức kinh tế kiếm tiền bằng cách sử dụng tiền gửi ngắn hạn và chuyển những khoản tiền đó thành các khoản nợ lớn hơn và dài hạn. Quá trình này biến đổi tài sản của họ, tạo ra thu nhập. Nói cách khác, họ kiếm được lợi nhuận bằng cách lấy tiền của người ta và cho mượn tiền.
Chức năng của ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng Là chức năng quan trọng đầu tiên của ngân hàng thương mại. đồng thời là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. Khi thể hiện chức năng là trung gian tín dụng, NHTM vừa đóng vai trò là người vay vốn trên thị trường tín dụng. thông qua thu hút tiết kiệm tiền gửi, đồng thời đóng vai trò là người cho vay lại với lãi suất cao hơn đối với các tổ chức và cá nhân có nhu cầu về tín dụng.
Nhờ đó ngân hàng thu được lợi nhuận bằng mức chênh lệch lãi suất giữa cho vay và gửi kiệm. Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng có nhiệm vụ giữ nắm giữ tiền trong tài khoản của khách hàng là cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp để khi phát sinh giao dịch liên quan đến hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu hay mua sắm của khách hàng, Ngân hang sẽ sử dụng các. bút toán nhằm trích hoặc nhập tiền từ tài khoản của khách hàng dựa trên sự giảm tài khoản để thực hiện thanh toán do mua hoặc tăng tài khoản do doanh thu bán. Dịch vụ mà các NHTM cung cấp cho khách hàng khá đa dạng bao gồm nhiều phương tiện thanh toán đa dạng như phiếu séc, ủy nhiệm thu - chỉ, thẻ (ATM, thanh toá tín dụng).
Dựa trên nhu cầu, khách hàng sẽ chọn cho mình phương thức thanh toán thích hợp. Nhờ vậy, mà khách hàng có thể hoàn toàn không bị phụ thuộc vào các khoảng cách địa lý hay thời gian. Họ hoàn toàn có thể ủy quyền cho bên ngân hàng thực hiện nhiệm vụ này. Đồng thời ngân hàng cũng sẽ thu một khoản phí dựa trên dịch vụ mà khách hàng sử dụng.
Vì vậy, các giao dịch thanh toán trở nên đơn giản, tiết kiệm được thời gian, chỉ phí và đảm bảo độ an toàn. Điều này giúp làm giảm. bớt các khó khăn trong thanh toán chỉ phí hàng hóa, đẩy mạnh tốc độ thanh toán, tăng cường lưu thông hàng hóa dịch vụ, giúp phát triển nền kinh tế. Chức năng tạo tiền Tạo tiền có vai trò rất quan trọng, thể hiện chức năng cơ bản rõ nét của NHTM.
Đi kèm với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. các ngân hàng thương mại đưa sản phẩm dịch vụ của mình vào nền kinh tế, vô hình trung tạo tiền phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội. Chức năng trên được thực hiện dựa trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và thanh toán, dựa trên tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Thông qua tạo tiền, ngân hàng thương mại giúp gia tăng tổng công cụ thanh toán trong xã hội, thúc đầy phát triển kinh tế.
Các hoạt động của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động về nguồn vốn (Tài sản Nợ - NGUÒN VỐN) của Ngân hàng thương mại Hoạt động huy động nguôn vốn là có ý nghĩa tiền đề vô cùng quan trọng đối với bản thân riêng ngân hàng cũng như đối với toàn xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được sự cho phép của pháp luật, tận dụng các nguồn tiền nhàn rồi trong xã hội phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của bản thân đồng thời tạo nguồn vốn tín dụng phục vụ các đối tượng khác trong xã hội có nhu cầu sử dụng vốn. Nguồn vốn trong NHTM bao gồm các thành phần như Vốn điều lệ, Các quỹ dự trữ của ngân hàng, Vốn huy động, Vốn đi vay Vốn tiếp nhận và vốn khác.
Vốn điều lệ và các quỹ: Nguồn vốn này của ngân hàng được gọi là vốn tự có của ngân hang (Bank’s Capital), được hình thành từ các nguồn vốn chủ sở hữu và vốn bổ sung từ hoạt động. kinh doanh của ngân hàng. 'Vốn điều lệ của ngân hàng ban đầu được đem đầu tư vào xây dưng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, mua sắm cơ bản phục vụ cho mục đích duy trì hoạt động cơ bản của ngân hàng, sau đó nguồn vốn còn lại được đem đi kinh doanh, đầu tư trung hạn và dài hạn. Các quỹ dự trữ của ngân hàng: đây là các loại quỹ được thành lập xuyên suốt trong quá trình hoạt động của ngân hàng, trích lập dựa trên lợi nhuận của ngân hàng tạo ra dựa trên tỷ lệ nhất định bao gồm ~ _ Quỹ dự trữ: hình thành từ lợi nhuận ròng, bồ sung cho vốn điều lệ ~ _ Quỹ dự phòng tài chính: bù đắp trong trường hợp rủi ro, kinh doanh thua lỗ ~ _ Quỹ khen thưởng phúc lợi ll Quy phat triển kỹ thuật nghiệp vu.
Lợi nhuận giữ lại (Retained Eamings) dùng dé phân phối cho các quỹ: Chênh lệch tỷ giá hối đoái, định giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản Đặc điểm 'Vốn tự có mang tính ồn định cao và không ngừng gia tăng. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng tuy nhiên vốn tự có phản ánh sức khỏe kinh tế của một ngân hàng, khả năng. đảm bảo việc trả các khoản vay của ngân hàng đó. Vốn huy động Là nguồn vốn tài nguyên lớn nhất.
Đóng vai trò là nguồn vốn chủ yếu trong ngân hàng, trên thực tế các chủ sở hữu ngân hàng có thể sử dụng để phục vụ nhu cầu kinh doanh nhưng đồng thời phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ bắt cứ khi nào khách hàng yêu cầu. Vốn huy động hình thành từ các nguồn như sau: 'Nhận tiền gửi (tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn) 'Thông qua việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác Các khoản tiền gửi khác theo quy định của pháp luật Đặc điểm của vốn huy động Mang tính không ôn định Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tông nguồn vốn ngân hang Mục đích sử dụng Cung cấp tín dụng Dự trữ 12 c. Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay đóng vai trò rất quan trọng trong cơ cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng. Thuộc loại này bao gồm hai loại: Vốn vay trong nước (của ngân hàng trung ương và thị trường liên ngân hàng) và Vốn của ngân hàng nước ngoài Vốn tiếp nhận: Nguồn vốn được tiếp nhận từ ngân sách nhà nước, các tô chức kinh tế - tài chính, các ngân hàng với mục đích dành cho các dự án phát triển kinh tế xã hội, cả thiện dân sinh.
chỉ được cấp và sử dụng cho đối tượng và mục tiêu đã xác định. Vốn khác: Nguồn vốn được hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng (dịch vụ chuyển tiền, ngân hàng đại lý. Hoạt động về cấp tín dụng (Credits): 'Vốn được cấp cho các cá nhân, tô chức có nhu cầu về tín dụng, bao gồm các hoạt động như sau: a. Khoản vay ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng mà thường được gia hạn trong một khoảng thời gian nhất định, thường là các kỳ lãi suất cố định liên quan đến cơ sở lãi suất cơ bản, với khoản nợ gốc được hoàn trả hoặc là trên cơ sở trả góp định kỳ hoặc toàn bộ vào việc mua lại được chỉ định ngày.
Ngoài ra, khoản vay ngân hàng có thể dưới hình thức các cơ sở thấu chỉ theo đó khách hàng có thể mượn được nhiều tiền khi họ yêu cầu đến một khoản tiền đặt trước và được tính lãi cho số dư chưa thanh toán.