Chương 1: Những lý luận cơ bản về công tác kiểm tra của UBND cấp quận đối với hoạt động thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra của UBND quận Đống Đa đối với hoạt động thương mại. Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác kiểm tra UBND quận Đống Đa đối với hoạt động thương mại. 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA UBND CẤP QUẬN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI 1.1 Lý luận về kiểm tra các hoạt động thƣơng mại 1.1 Hoạt động thương mại 1.1 Khái niệm - Theo nghĩa rộng: Hoạt động thương mại là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh.
“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Luật Doanh nghiệp 2005). Theo nghĩa trên, hoạt động thương mại gồm ba khâu là sản xuất (trong đó có đầu tư), lưu thông và dịch vụ. - Theo nghĩa hẹp: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Luật thương mại 2005). Như vậy,“hoạt động thương mại được định nghĩa theo Luật Thương mại chỉ tập trung vào hai khâu lưu thông và dịch vụ, không bao hàm cho khâu đầu tư sản xuất.2 Phân loại hoạt động thương mại “Hai lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ: - Thương mại hàng hóa hay “mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận” (Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại).
- Thương mại dịch vụ hay “cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ 10 thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận” (Khoản 9 Điều 3 Luật Thương mại). Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, có những thương nhân chuyên kinh doanh mua bán hàng hóa và có những thương nhân đồng thời là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ. Vì vậy, pháp luật thương mại cũng có một số nội dung liên quan đến quá trình đầu tư sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ.” Trong phạm vi luận văn này, các hoạt động thương mại mà tác giả đề cập và tiến hành phân tích là các hoạt động thương mại hàng hóa như đã đề cập tại mục Giới hạn của luận văn.2 Kiểm tra Theo Từ điể n Tiế ng Viê ̣t , kiể m tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá , nhận xét”, để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc). Tức là kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật của các đối tượng liên quan trong phạm vi quản lý…).
Như vậy, kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý. Thông qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các hoạt động để thực hiện tốt mục tiêu đã xác định. Có nhiều quan niệm về kiểm tra trong quản lý: - Harold Koontz: “Kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh hoạt động các bộ phận cấp dưới để tin chắc rằng các mục tiêu và kế hoạch thực hiện mục tiêu đó đã đang được hoàn thành. Mockler: “Kiểm tra là quản trị là một nỗ lực có hệ thống nhằm thiết lập những tiêu chuẩn, những hệ thống phản hồi thông tin, nhằm so sánh những kết quả thực hiện với định mức đã đề ra, và để đảm bảo rằng những nguồn lực đã và đang được sử dụng có hiệu quả nhất, để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Merchant: “Kiểm tra bao gồm tất cả các hoạt động mà nhà 11 quản trị thực hiện nhằm đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch.” Nhìn chung, các quan niệm về kiểm tra nêu trên đều đề cập đến việc chủ thể thông qua quy trình được xây dựng để đo lường kết quả thực hiện một hoạt động của đối tượng xác định nhằm đảm bảo hoạt động thực hiện theo mục tiêu đề ra.3 Công tác kiểm tra các hoạt động thương mại của UBND cấp quận Khoản 3 Điều 49 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của UBND quận như sau: “Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”. Cũng theo quy định tại Điều 8 Luật Thương mại 2005, “Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.” Như vậy, nói đến kiểm tra các hoạt động thương mại trong luận văn này chính là nói đến công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động thương mại diễn ra trong phạm vi đơn vị quản lý mà cụ thể ở đây là công tác kiểm tra các hoạt động thương mại của UBND cấp quận. UBND cấp quận thực hiện công tác kiểm tra đối với các hoạt động thương mại trên địa bàn theo phân cấp, phân quyền của Thành phố. UBND quận thực hiện chức năng nhiệm vụ theo phân cấp, phân quyền tức là có giới hạn phạm vi chức năng, nhiệm vụ.
Nhưng mặt khác, UBND cấp quận lại chịu trách nhiệm chung về quản lý nhà nước trên địa bàn. Để thực hiện nhiệm vụ trên không chỉ đơn thuần UBND quận có đủ thẩm quyền và nguồn lực (bao gồm con người, công cụ và phương tiện) để thực hiện, do đó UBND quận phải phối hợp với các đơn vị chức năng khác trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra của mình. Như vậy khái niệm kiểm tra đối với các hoạt động thương mại của UBND quận được hiểu theo nghĩa rộng tức là công tác kiểm tra các hoạt động thương mại của 12 chính quyền quận bao gồm UBND cấp quận và các đơn vị chức năng có liên quan. Tóm lại, công tác kiểm tra của UBND quận (theo nghĩa hẹp) và của chính quyền quận (theo nghĩa rộng) đối với các hoạt động thương mại là việc UBND quận (hay chính quyền quận) thông qua các công cụ quản lý hành chính, pháp luật theo phân cấp nhằm thực hiện đo lường kết quả hoạt động thương mại trên địa bàn, phát hiện những ưu điểm, tồn tại và đưa ra các giải pháp phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, thương mại đã đề ra.
Trong khái niệm trên, có một số điểm lưu ý sau: - Chủ thể kiểm tra: là UBND quận và các đơn vị có chức năng quản lý thương mại, gọi chung là chính quyền Quận. - Đối tượng kiểm tra: là tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thương mại và các hoạt động có liên quan. - Phạm vi kiểm tra: địa giới hành chính của quận. - Thẩm quyền kiểm tra: Kiểm tra theo phân cấp, phân quyền theo luật định, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế- xã hội của cả nước và của thành phố.
- Công cụ kiểm tra: thông qua các công cụ quản lý nhà nước trong đó có hai công cụ chính: công cụ hành chính, công cụ pháp luật. - Mục đích của kiểm tra: thông qua đo lường các kết quả hoạt động thương mại để phát hiện những ưu điểm, tồn tại, những bất cập trong công tác quản lý, những hành vi vi phạm của đối tượng tham gia hoạt động thương mại trên địa bàn. - Mục tiêu: đảm bảo các hoạt động thương mại diễn ra theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công bằng, tuân thủ pháp luật của tất cả các đối tượng tham gia hoạt động thương mại.4 Phân định công tác kiểm tra các hoạt động thương mại của UBND cấp quận với cấp thành phố và cấp phường Thông qua khái niệm về công tác kiểm tra các hoạt động thương mại của UBND cấp quận được nêu tại mục 1.3, chúng ta có thể thấy: - Chủ thể kiểm tra của công tác kiểm tra đối với các cấp chính quyền là khác 13 nhau: cấp quận là UBND quận (chính quyền quận), cấp phường do UBND cấp phường thực hiện còn cấp thành phố do UBND thành phố và các sở ngành thực hiện. - Phạm vi kiểm tra là khác nhau theo địa giới hành chính quản lý.
- Thẩm quyền kiểm tra là khác nhau, UBND Thành phố có thẩm quyền cao nhất trong các cấp chính quyền địa phương sau đó phân cấp cho UBND cấp quận, UBND cấp quận phân cấp cho UBND cấp phường thực hiện một nhóm các vấn đề về thương mại được quản lý, kiểm tra. - Về công cụ kiểm tra: thông qua các công cụ quản lý nhà nước trong đó có 2 công cụ chính là công cụ hành chính và công cụ pháp luật. Ở đây chính là quay trở lại là sự phân cấp thực hiện. Mỗi cấp chính quyền sẽ sử dụng một công cụ kiểm tra theo phân cấp, phân quyền để thực hiện.
UBND Thành phố có thể giao nhiệm vụ cho các sở, UBND các quận thực hiện kiểm tra các hoạt động thương mại bằng văn bản chỉ đạo, quyết định thực hiện. Trong khi đó, UBND cấp phường là đơn vị hành chính địa phương bé nhất, thực thi các chỉ đạo của chính quyền cấp trên trong công tác kiểm tra các hoạt động thương mại.2 Đặc điểm, vai trò và mục tiêu của công tác kiểm tra của UBND cấp quận đối với hoạt động thƣơng mại 1.