Luận án tiến sĩ nâng cao cơ tính tổng hợp của gang cầu bằng xử lý nhiệt tạo nền ferit và ausferit

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nâng cao cơ tính tổng hợp của gang cầu qua xử lý nhiệt tạo nền ferit và ausferit, ứng dụng trong công nghiệp.

Chuyên ngành

Kỹ thuật vật liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

150
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về gang cầu và xử lý nhiệt

Gang cầu là vật liệu có nhiều ưu điểm vượt trội so với các loại gang khác, thậm chí có thể thay thế thép trong nhiều ứng dụng. Xử lý nhiệt là phương pháp quan trọng để nâng cao cơ tính tổng hợp của gang cầu. Bằng cách tạo ra các tổ chức mới như feritausferit, gang cầu có thể đạt được độ bền và độ dẻo cao. Gang cầu tôi đẳng nhiệt ADI là một ví dụ điển hình, với độ bền kéo lên đến 1200 MPa và độ giãn dài từ 1 đến 5%. Việc nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp xử lý nhiệt để tạo ra các tổ chức đa pha trong gang cầu đang là hướng đi được quan tâm.

1.1. Tổng quan về gang cầu

Gang cầu là loại gang có cấu trúc graphit hình cầu, mang lại độ bền và độ dẻo cao hơn so với gang xám. Nhờ cơ tính tổng hợp vượt trội, gang cầu được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng. Việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp xử lý nhiệt để cải thiện tính chất của gang cầu luôn là vấn đề được ưu tiên.

1.2. Xử lý nhiệt trong gang cầu

Xử lý nhiệt là phương pháp hiệu quả để thay đổi cấu trúc feritcấu trúc ausferit trong gang cầu. Quá trình này bao gồm các giai đoạn như austenit hóa, tôi đẳng nhiệt, và . Bằng cách kiểm soát nhiệt độ xử lýthời gian xử lý, có thể tạo ra các tổ chức đa pha với tính chất cơ học được cải thiện đáng kể.

II. Quá trình xử lý nhiệt tạo nền ferit và ausferit

Quá trình xử lý nhiệt để tạo nền feritausferit trong gang cầu bao gồm nhiều giai đoạn phức tạp. Austenit hóa là bước đầu tiên, trong đó gang cầu được nung nóng đến nhiệt độ cao để chuyển đổi cấu trúc thành austenit. Sau đó, quá trình tôi đẳng nhiệt được thực hiện để tạo ra cấu trúc ausferit, bao gồm các kim ferit và austenit cacbon cao. Nhiệt độ xử lýthời gian xử lý là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng.

2.1. Austenit hóa và tôi đẳng nhiệt

Austenit hóa là quá trình nung nóng gang cầu đến nhiệt độ cao để chuyển đổi cấu trúc thành austenit. Nhiệt độ austenit hóa thường dao động từ 870°C đến 930°C. Sau đó, quá trình tôi đẳng nhiệt được thực hiện ở nhiệt độ thấp hơn (280°C đến 400°C) để tạo ra cấu trúc ausferit. Quá trình này giúp cải thiện cơ tính tổng hợp của gang cầu.

2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian

Nhiệt độ xử lýthời gian xử lý là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cấu trúc feritcấu trúc ausferit. Nhiệt độ cao hơn và thời gian dài hơn thường dẫn đến sự hình thành nhiều ferit thứ cấp, làm tăng độ dẻo của gang cầu. Tuy nhiên, cần cân nhắc để đảm bảo độ bền không bị giảm quá nhiều.

III. Ứng dụng và giá trị thực tiễn

Việc nâng cao cơ tính tổng hợp của gang cầu bằng xử lý nhiệt tạo nền feritausferit có ý nghĩa quan trọng trong công nghiệp. Gang cầu ADI với cấu trúc ausferit được sử dụng rộng rãi trong các chi tiết máy yêu cầu độ bền và độ dẻo cao. Nghiên cứu này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu vật liệu từ nước ngoài.

3.1. Ứng dụng trong công nghiệp

Gang cầu ADI với cấu trúc ausferit được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là các chi tiết máy yêu cầu độ bền và độ dẻo cao. Các sản phẩm từ gang cầu ADI có thể thay thế thép trong nhiều trường hợp, giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.

3.2. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này mang lại giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong việc giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Bằng cách tối ưu hóa quá trình xử lý nhiệt, có thể tạo ra các sản phẩm gang cầu với cơ tính tổng hợp vượt trội, đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp đặc thù.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nâng cao cơ tính tổng hợp của gang cầu bằng xử lý nhiệt tạo nền ferit và ausferit

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Danh mục các công trình đã công bố Tài liệu tham khảo Phụ lục 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.

Gang cầu tôi đẳng nhiệt ADI Gang cầu tôi đẳng nhiệt là loại gang có độ dẻo cao, được sản xuất bằng quá trình xử lý nhiệt gang cầu truyên thống, để tạo ra cấu trúc nền chủ yếu là các ferit hình kim nằm trên nền austenit giàu cácbon (còn được gọi là tổ chức ausferit). Công nghệ chế tạo gang ADI có thể tóm tắt như sau. - Gang xám thường được biến tính cầu hoá có mức độ cầu hoá khoảng 90 %. - Gang cầu được nung nóng và giữ đẳng nhiệt ở vùng austenit hoá trong khoảng từ 840 đến 960 oC, giữ đủ thời gian để bão hoà C trong pha austenit, nhận được tổ chức nền hoàn toàn austenit; sau đó làm nguội nhanh tới nhiệt độ dưới A1, giữ nhiệt trong thời gian thích hợp để austenit bão hoà cacbon chuyển biến thành ausfenit và làm nguội tới nhiệt độ phòng.

Sơ đồ tôi đẳng nhiệt gang cầu ADI với 2,4 %Si [1] 4 Sơ đồ tôi đẳng nhiệt gang cầu ADI được mô tả trên hình 1.1 Các chuyển biến khi làm nguội đẳng nhiệt: - Tại điểm M, gang đã được austenit hoá hoàn toàn và giữ nhiệt một khoảng thời gian là MN - Sau đó, gang được làm nguội từ điểm N rất nhanh tới điểm P có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ bắt đầu chuyển biến mactensit và giữ đẳng nhiệt, sao cho không xuất hiện peclit hoặc ferit trong tổ chức nền kim loại. - Giai đoạn P-F là giai đoạn chuẩn bị (incubation) - Tại điểm F sẽ bắt đầu xảy ra sự chuyển biến pha. Giai đoạn FG gọi là phản ứng giai đoạn 1 của quá trình. Đầu tiên, austenit () bão hoà cacbon tiết ra ferit hình kim (Acicular ferrite-AF).

Cacbon dư sẽ khuếch tán vào austenit, làm austenit giàu C và trở nên ổn định hơn còn gọi là austenit cacbon cao (γHC): γ → AF + γHC (1.1) Tổ chức ferit hình kim trên nền austenit cacbon cao gọi là ausferit. - Tới điểm G: nồng độ bão hoà C trong austenit đã đủ lớn, hàm lượng C có thể đạt tới (1,8 đến 2,2) %, đẩy đường bắt đầu chuyển biến mactensit MS dần thấp hơn nhiệt độ phòng, cho nên có thể nói, austenit trở nên rất ổn định. Phản ứng giai đoạn 1 kết thúc. - Trong khoảng GH, không có phản ứng nào xảy ra.

Chỉ có quá trình ổn định và sắp xếp lại tổ chức, tổ chức hoàn toàn là ausferit. Vùng này còn có tên vùng “cửa sổ quá trình” (Process Window). Nếu tiếp tục kéo dài thời gian giữ đẳng nhiệt qua điểm H , phản ứng giai đoạn 2 sẽ xảy ra. Austenit cacbon cao tiết ra ferit và cacbit: γHC → ferit + cacbit() (1.2) Hỗn hợp hai pha ferit và cacbit- tấm mịn được gọi là tổ chức bainit.

Gang cầu cũng giống như thép hợp kim silic, có hai vùng chuyển biến bainit: bainit trên và bainit dưới. Khi nhiệt độ chuyển biến đẳng nhiệt thấp sẽ cho tổ chức của gang ADI mịn hơn cho nên gang có độ bền cao nhưng độ dẻo dai giảm (bảng 1. Các mác gang ADI với nhiệt độ chuyển biến đẳng nhiệt [2] Mác gang (Theo Din EN 1564) Nhiệt độ chuyển biến đẳng nhiệt (0C) EN-GJS 800-8 370 tới 390 EN-GJS 1.000-5 350 tới 370 EN-GJS 1.200-2 320 tới 350 EN-GJS 1.400-1 280 tới 320 Gang cầu ADI có cơ tính tổng hợp cao, trong khi đó, tính đúc cũng như tính gia công cơ của gang cầu ADI tốt hơn nhiều so với thép. Do vậy, khi chọn gang cầu 5 ADI làm vật liệu để chế tạo các chi tiết thay thế cho thép thì giá thành sẽ giảm đi đáng kể.

Cho nên, làm chủ được công nghệ chế tạo gang cầu ADI, thì có thể chế tạo thiết bị được trên thị trường của các nước đang phát triển. Gang cầu peclit có thể đạt được giới hạn bền kéo ζb = (600 ÷ 800) MPa và độ giãn dài δ = (1 ÷ 5) %, gang cầu ferit có thể đạt được độ bền kéo ζb = (450 ÷ 500) MPa và độ giãn dài δ tới 25%. Đối với gang cầu truyền thống, muốn tăng độ dẻo thì độ bền của gang lại giảm, mặt khác muốn gang cầu có độ bền cao thì độ dẻo lại rất thấp. Bởi vậy, với chi tiết khi làm việc yêu cầu cả độ dẻo và độ bền thì gang cầu truyền thống không đáp ứng được.

Một giải pháp cũng khả thi là phải sử dụng vật liệu thép, sau đó xử lý nhiệt để nâng cao độ bền, tuy nhiên thép lại là vật liệu có tính đúc kém, do vậy giá thành khi chế tạo tăng lên khá nhiều. Gang cầu ADI đáp ứng được các yêu cầu nói trên, vì vậy gang cầu ADI là vật liệu có giá trị của hiện tại và tương lai trong công nghệ chế tạo máy. Gang cầu tôi đẳng nhiệt ADI có thể đạt giới hạn bền lớn nhất 1200 MPa và độ giãn dài (1 ÷ 5) %. Nếu độ bền đạt 1000 MPa thì độ giãn dài vẫn có thể đạt gần 5 %.

Đây là một ưu việt nổi trội của gang cầu ADI [3]. Gang cầu có tổ chức ferit thứ cấp và ausferit Hình 1. Ảnh hiển vi quang học của gang cầu có tổ chức ferit và ausferit (Chất tẩm thực 8g CrO3 + 40 g NaOH + 72 ml H2O) [4] Gang cầu tôi đẳng nhiệt nền ferit và austenit (Austempered Ductile Iron with Dual Matrix), được chế tạo nhờ quá trình nhiệt luyện: austenit hóa một phần để tạo thành tổ chức ferit thứ cấp và austenit, sau đó là tôi đẳng nhiệt để austenit chuyển thành tổ chức ausferit (ferit hình kim trên nền austenit cacbon cao). Tổ chức cuối cùng của gang sẽ là ferit thứ cấp và ausferit.

Tổ chức này đảm bảo cho gang có cơ tính tổng hợp khá tốt: độ bền cao kết hợp độ dẻo cũng cao [5] (hình 1. Loại gang cầu ferit và austenit là sự lựa chọn thay thế khả thi để tạo ra hệ thống truyền động và cấu tạo khung gầm trong ngành công nghiệp quốc phòng và chế tạo máy móc tự động, vì nó có giới hạn chảy cao ( 380 ÷ 550) MPa, giới hạn bền kéo cao ( 500 ÷ 900) MPa, độ giãn dài tương đối ( 14 ÷ 20) %, độ bền va đập 6 ( 45 ÷ 55) J/cm2, tính chống chịu với các môi trường ăn mòn tốt, khả năng đúc và gia công tuyệt vời [6, 7, 8, 9]. Sự thay đổi về lượng ausferit được kiểm soát nhờ sử dụng nồng độ silic khác nhau trong gang và giữ nhiệt độ austenit hóa một phần luôn không đổi. Kết quả cho thấy gang cầu với nền ferit-ausferit có độ bền có thể ngang với độ bền của gang cầu tổ chức tế vi peclit, trong khi độ dẻo tương đương với các loại gang cầu ferit [10,11].

Trong gang cầu đẳng nhiệt ferit và ausferit, công đoạn austenit hóa một phần có ảnh hưởng rất mạnh tới các đặc tính cơ học vì nó kiểm soát tỷ phần ferit thứ cấp và ausferit trong tổ chức tế vi cuối cùng. Giai đoạn tôi đẳng nhiệt không có ảnh hưởng mạnh đến tính chất cơ học của loại gang cầu này như đối với gang ADI thông thường [9, 12, 13]. Tuy nhiên, việc giải thích cơ chế của phản ứng bainit trong gang cầu ferit và austenit dựa vào các nghiên cứu với ADI thông thường cũng rất cần thiết. Mối quan hệ giữa độ bền kéo và độ giãn dài đến phá hủy của các loại gang cầu [14] Gang cầu ferit và ausferit có quan hệ ứng suất - biến dạng khác hẳn so với các gang cầu ferit, gang cầu peclit và gang cầu được tôi đẳng nhiệt ADI.3 so sánh mối liên hệ giữa độ bền kéo và độ giãn dài của các loại gang cầu.

So với gang cầu ferit, gang cầu tôi đẳng nhiệt ferit và austenit gần như gấp đôi về độ bền, giới hạn chảy nhưng có độ giãn dài tương tự nhau. So với gang cầu peclit, gang cầu đẳng nhiệt ferit+ausferit có độ bền, giới hạn chảy cao hơn 1 chút và độ giãn dài cao gấp 2 lần. So với gang cầu tôi đẳng nhiệt thông thường (ADI), gang cầu tôi đẳng nhiệt có tổ chức nền ferit và ausferit có độ bền, giới hạn chảy thấp hơn nhưng độ giãn dài tương đối cao gần như gấp đôi [14]. Các tác giả chứng minh rằng, (1) độ cứng tăng khi nhiệt độ austenit hóa tăng, (2) độ cứng và giới hạn chảy có liên quan tuyến tính với nhau, có nghĩa là, khi độ cứng tăng thì giới hạn chảy tăng, (3) nhiệt độ tôi đẳng nhiệt có ít ảnh hưởng tới các đặc tính cơ học, nhưng nó được kiểm soát chủ yếu bởi quá trình austenit hóa một 7 phần của quá trình nhiệt luyện, và (4) quá trình austenit hóa và sau đó là tôi đẳng nhiệt tạo ra loại vật liệu có khả năng gia công tốt hơn, tuổi thọ tốt hơn và tính chống chịu với các môi trường ăn mòn tốt hơn rất nhiều so với ADI thông thường [13, 14, 15].

ADI thông thường được tạo ra bằng quá trình austenit hóa hoàn toàn, sau đó là tôi đẳng nhiệt. Giai đoạn đầu, phản ứng giai đoạn 1, bao gồm quá trình tạo mầm và phát triển mầm ferit. Độ hòa tan thấp của cacbon trong ferit, đồng thời nồng độ silic cao đã làm trì hoãn quá trình tạo cacbit. Khi quá trình bị dừng ở cuối giai đoạn này, austenit có thể có nồng độ cacbon đủ cao để ổn định sau quá trình tôi tới nhiệt độ phòng, điều đó dẫn đến sự hình thành tập hợp ferit và austenit ổn định gọi là ausferit.

Nếu dừng quá trình ở cuối giai đoạn 1, gang sẽ có tính chất cơ học tốt nhất. Giai đoạn thứ 2 của quá trình bắt đầu với sự tạo cacbit, sau đó là sự phát triển các tấm ferit [16, 17, 18, 19]. Hình thái học ausferit phụ thuộc vào nhiệt độ tôi đẳng nhiệt. Ở nhiệt độ tôi đẳng nhiệt cao, động lực cho phản ứng khá thấp và sự khuếch tán cacbon khá cao dẫn đến tỷ phần pha ferit hình kim nhỏ hơn và tỷ phần theo thể tích của austenit lớn hơn.

Ở nhiệt độ thấp, động lực cho phản ứng khá cao và sự khuếch tán cacbon khá chậm và sau đó có nhiều ferit hình kim hơn và ferit hình kim mịn hơn được hình thành [18]. Các nguyên tố hoá học có trong thành phần gang đều có ảnh hưởng đến quá trình chuyển biến. Silic làm trì hoãn quá trình tạo cacbit, nghĩa là mở rộng cửa sổ quá trình ADI. Các nguyên tố hợp kim như là mangan và niken cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất ADI thông thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao cơ tính tổng hợp gang cầu bằng xử lý nhiệt tạo nền ferit và ausferit" tập trung vào việc cải thiện tính chất cơ học của gang cầu thông qua quá trình xử lý nhiệt, tạo ra cấu trúc ferit và ausferit. Phương pháp này không chỉ giúp tăng độ bền và độ dẻo dai của vật liệu mà còn mở ra hướng ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp đòi hỏi vật liệu có độ tin cậy cao. Đây là một nghiên cứu quan trọng dành cho các kỹ sư và nhà khoa học vật liệu, cung cấp giải pháp hiệu quả để tối ưu hóa tính năng của gang cầu.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp xử lý và cải thiện vật liệu, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học thiết kế vật liệu fedoped cryptomelane để xử lý phẩm nhuộm màu, nghiên cứu về thiết kế vật liệu mới để xử lý chất thải công nghiệp. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ công nghệ hóa học nghiên cứu chế tạo vật liệu nano gamma nhôm oxit yal2o3 cung cấp thông tin chi tiết về chế tạo vật liệu nano, một lĩnh vực đang phát triển mạnh mẽ. Cuối cùng, Luận văn quy trình chế tạo vật liệu phát quang zns al cu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình chế tạo vật liệu phát quang, một ứng dụng tiềm năng trong công nghệ hiện đại.