Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng và hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự. Chương 2: Thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Kiểm sát viên từ thực tiễn Viện Kiểm sát TP. Hải Dương; Một số kiến nghị, đề xuất. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH TỤNG, NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG XÉT XỬ HÌNH SỰ 1.
Khái niệm tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng 1. Khái niệm tranh tụng Xét về thuật ngữ, “tranh tụng” theo từ điển Tiếng Việt có nghĩa là “Kiện tụng”. Còn theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ “tranh tụng” được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”. Theo từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2005, “tranh tụng” là “hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại quan điểm và lợi ích của phía đối lập” Xét về mặt lịch sử, vấn đề tranh tụng đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử tư pháp, bản chất của nó là hoạt động đối đáp liên tục giữa các bên có lợi ích đối kháng nhau trước người trọng tài đóng vai trò phân xử để tìm chân lý.
Xét về khía cạnh thuật ngữ khoa học pháp lý, tranh tụng có thể được hiểu theo 3 nội dung khác nhau: Thứ nhất, được hiểu là một mô hình tố tụng Thứ hai, được hiểu là 1 nguyên tắc thuộc tố tụng hình sự Thứ ba, được hiểu là một hoạt động thực hiện vai trò của các chức năng đối lập nhau và có quyền ngang nhau trong tố tụng hình sự hay còn gọi là hoạt động tranh tụng. Dù hiểu theo nghĩa nào thì tranh tụng luôn có bản chất là phương thức tìm kiếm sự thật từ các bên để giúp cho Tòa án có phán quyết đúng đắn, bảo vệ tối đa quyền con người, nhất là quyền của người bị buộc tội. 7 Dưới góc độ mô hình tố tụng, tranh tụng được coi là mô hình công bằng, đối tụng giữa các bên buộc tội, gỡ tội đươc coi là bản chất cơ bản trong mô hình này. Sự phân chia vị trí của các chủ thể tố tụng tương ứng với chức năng là bên buộc tội, bên gỡ tội và xét xử.
Thủ tục tranh tụng diễn ra xuyên suốt quá trình tố tụng hình sự, kể từ khi bắt đầu điều tra cho tới khi Tòa án ra phán quyết. Thông qua việc đưa ra bằng chứng của bên buộc tội và những lý lẽ, phản bác của bên gỡ tội mà tòa án có thể nghiên cứu, đánh giá nội dung vụ án, xác định sự thật khách quan của vụ án và đưa ra kết quả giải quyết đúng đắn. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Tranh tụng trong tố tụng hình sự là sự tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội một cách bình đẳng dựa trên những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án tại phiên tòa xét xử, đồng thời làm cơ sở cho việc ra bản án, quyết định của Tòa án. Theo thực tiễn tố tụng của Việt Nam, tranh tụng được hiểu là hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự, đặc biệt là tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự (cả phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm).
Trong đó, Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng dựa trên các tài liệu, chứng cứ, các quy định của pháp luật, dựa trên cơ sở tư duy logic để đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Nguyên tắc tranh tụng Nguyên tắc tranh tụng là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các chủ thể tố tụng trong việc thực hiện quá trình tranh luận bình đẳng dựa trên chứng cứ, quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội. Tòa án sẽ đưa ra phán quyết dựa trên sự thật được chứng minh bởi các bên. Như vậy, tranh tụng trong tố tụng hình sự thực chất là quá trình 8 vận động, tác dộng qua lại giữa hai chức năng cơ bản của tố tụng hình sự: Chức năng buộc tội và chức năng bào chữa.
Các chủ thể thực hiện chức năng tố tụng này được bảo đảm địa vị pháp lý bình đẳng trong việc bày tỏ ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà đỉnh điểm của quá trình này diễn ra tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự. Nguyên tắc tranh tụng thể hiện tính dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, bình đẳng trong tố tụng hình sự, đặc biệt là trong phiên tòa xét xử vụ án hình sự. Tranh tụng tạo điều kiện tối đa cho các bên tham gia tố tụng sử dụng các phương pháp để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Nguyên tắc tranh tụng đề cao vai trò của người bào chữa, của cá nhân và đề cao các quyền cơ bản của con người.
Thẩm phán chỉ đóng vai trò trọng tài khách quan và công minh ra phán quyết trên cơ sở chứng cứ mà các bên chứng minh. Trong giai đoạn xét xử, nguyên tắc tranh tụng đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tố tụng không một bên tham gia nào có thể được chiếm ưu thế hơn bên kia, kể cả Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Quyền lực tố tụng được phân chia giữa Thẩm phán, người buộc tội và người bào chữa. Trong đó người buộc tội là người đại diện cho Nhà nước buộc tội người bị tình nghi trước Tòa.
Người bào chữa là người biện hộ cho người bị tình nghi phạm tội trước lời buộc tội của người buộc tội. Người bào chữa có quyền phản bác lại chứng cứ buộc tội đưa ra quan điểm gỡ tội cho người bị buộc tội. Đây chính là yếu tố rất quan trọng bảo đảm cho người bị buộc tội có đủ điều kiện pháp lý bảo vệ mình trong quá trình xét xử. Ngược lại các chứng cứ, lập luận do người bào chữa đưa ra cũng có thể bị người buộc tội phản bác lại.
Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự được thừa nhận rộng rãi trên thế giới không chỉ ở những nước có mô hình tố tụng tranh tụng mà còn ở những nước có mô hình tố tụng hỗn hợp. Phạm vi và nội dung tranh tụng có 9 thể có sự khác nhau trong các hệ thống pháp luật, tuy nhiên, thực hiện việc tranh tụng tại phiên tòa và Tòa án ra phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa là sự đảm bảo quan trọng cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết vụ án đúng đắn khách quan. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Tranh tụng trong tố tụng hình sự là sự tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội một cách bình đẳng dựa trên những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án tại phiên tòa xét xử, đồng thời làm cơ sở cho việc ra bản án, quyết định của Tòa án. Áp dụng vào thực tiễn tố tụng hình sự của Việt Nam thì tranh tụng được hiểu là hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự, đặc biệt là tại phiên tà xét xử vụ án hình sự, bao gồm cả phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.
Trong đó Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng dựa trên các tài liệu, chứng cứ, các quy định của pháp luật, trên cơ sở tư duy logic để đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Từ khái niệm trên có thể thấy bản chất của tranh tụng trong tố tụng hình sự gồm những nội dung sau: + Tranh tụng là hoạt động tố tụng hình sự, do vậy hoạt động tranh tụng phải tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS); + Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng hoặc chấm dứt tranh tụng, điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tranh tụng cho phù hợp với quy định của pháp luật và sự cần thiết làm rõ các vấn đề của vụ án. Chủ tọa phiên tòa là người trọng tài và qua phiên tòa xác định xem “sự thật” của ai thuyết phục hơn để qua đó phán xét, quyết định; 10 + Chủ thể của tranh tụng gồm có Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác.
Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳng với nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giải quyết vụ án. Kiểm sát viên có thể tranh tụng với người bào chữa, với bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật khách quan của vụ án; + Đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm, luận cứ và luận chứng của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án; + Mục tiêu của hoạt động tranh tụng là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Sự thật khách quan này bao gồm sự thật như nó đã diễn ra trên thực tế và được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ pháp lý, dựa trên đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm, luận cứ và luận chứng của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án bao gồm chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội để từ đó khẳng định quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm hoặc thừa nhận quan điểm của bên tranh tụng đối lập trong việc buộc tội hoặc gỡ tội, để từ đó làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án; + Cách thức tranh tụng là các bên chủ thể tranh tụng sử dụng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như những chứng cứ mới cung cấp đã được kiểm tra tại phiên tòa dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành để làm rõ các đối tượng tranh tụng; + Tranh tụng không chỉ là quyền, trách nhiệm của các bên tham gia tranh tụng. Chân lý về vụ án phải tìm thấy, có được thông qua tranh tụng.