Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Chất lượng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trường Công an nhân dân" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mai Phương thực hiện thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số: 9 31 01 02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thị Túy tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2024).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học (NCKH) là lực lượng nòng cốt trực tiếp tham mưu, quản lý, triển khai và hướng dẫn các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học thuộc lực lượng Công an nhân dân (CAND). Lực lượng này đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, đồng thời quyết định hiệu quả công tác tham mưu lý luận nhằm phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Dù đội ngũ cán bộ quản lý NCKH đã có bước phát triển về thể lực, trí lực và tâm lực, song thực tiễn tại các nhà trường CAND vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: số lượng cán bộ được đào tạo chính quy về nghiệp vụ quản lý khoa học chưa nhiều; trình độ tin học, ngoại ngữ chưa đáp ứng tốt yêu cầu mới; kỹ năng nghề nghiệp còn nặng tính hành chính sự vụ, chưa phát huy rõ vai trò tham mưu chiến lược trong môi trường giáo dục đại học. Trước yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình chuyển đổi số và chủ trương xây dựng lực lượng CAND chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc nghiên cứu toàn diện chất lượng đội ngũ này dưới góc độ kinh tế chính trị là một đòi hỏi cấp thiết mà các công trình trước đây chưa giải quyết trọn vẹn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ căn cứ lý luận và thực tiễn để đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND đến năm 2030. Để thực hiện mục đích này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án để tìm ra khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận về chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND như quan niệm, đặc điểm, vai trò; nội dung, tiêu chí, nhân tố ảnh hưởng; nghiên cứu kinh nghiệm của một số cơ sở giáo dục đại học tương đồng để rút ra bài học tham khảo.
  3. Đánh giá thực trạng chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng giai đoạn 2018 - 2022.
  4. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND đến năm 2030.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất lượng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trường CAND. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Phạm vi nội dung: Chất lượng nhân lực được tiếp cận qua ba cấu phần cơ bản gồm thể lực, trí lực, tâm lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ; nhân lực quản lý NCKH được giới hạn là đội ngũ lãnh đạo và cán bộ thuộc Phòng Quản lý NCKH trong các trường CAND.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 5 trường CAND khu vực phía Bắc gồm: Học viện An ninh nhân dân (T01), Học viện Cảnh sát nhân dân (T02), Học viện Chính trị Công an nhân dân (T03), Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy (T06) và Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân (T07).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập tư liệu, số liệu thứ cấp đánh giá thực trạng giai đoạn 2018 - 2022; tiến hành khảo sát thực nghiệm năm 2023 và đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về nhân lực và chất lượng nhân lực. Ở phạm vi quốc tế, Brian Tracy (2017) phân tích khung lý luận về nhân lực quản lý, lao động tay nghề cao và chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc để thu hút nhân tài. By Joseph Evans Agolla (2018) nghiên cứu nguồn nhân lực trong bối cảnh sản xuất thông minh và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhìn nhận vốn nhân lực là chất lượng kiến thức, kỹ năng, thói quen làm việc và sức khỏe phục vụ cho tổ chức. George Emil Palade (2020) nghiên cứu vai trò của quản lý nguồn nhân lực trong việc nâng cao chất lượng sản xuất và kích thích sáng kiến kỹ thuật. Gu XingShu và Zhang ZiXiang (2021) phân tích quản lý nguồn nhân lực thông minh tại cộng đồng đô thị Trung Quốc trong điều kiện bình thường mới, chỉ ra bất cập về bố trí nhân lực và đề xuất ứng dụng công nghệ thông tin. Nghiên cứu của Ichsan tại Indonesia nhấn mạnh tác động của năng lực người quản lý dự án xây dựng đến tiến độ công trình. HongWei Zhanga, Fang Benb và Meng Qin (2024) nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn nhân lực, tài nguyên và phát triển bền vững tại Trung Quốc. Ở trong nước, Nguyễn Ngọc Minh (2018) phân tích thực trạng lao động qua đào tạo và cơ cấu tuổi tại Việt Nam; Ngô Ngân Hà (2019) nghiên cứu chất lượng nhân lực tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Danh Vinh (2019) nghiên cứu chất lượng nhân lực tại Văn phòng Chính phủ; Phạm Thị Diễm (2021) nghiên cứu chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học công lập tại Hà Nội; Nguyễn Phước Nga (2021) phân tích chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ trong CAND.

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về nhân lực quản lý và nhân lực quản lý khoa học - công nghệ. Trên thế giới, Sajit Chandra Debnath (2014) khảo sát giáo dục và nhân lực KH&CN trong nền kinh tế tri thức tại Đông Á; Swapan Kumar Patra và Mammo Muchie (2018) so sánh năng lực KH&CN giữa Ấn Độ và Nam Phi qua các chỉ số đầu vào và đầu ra; nhóm tác giả T. (2022) tổng quan tài liệu về quản trị nguồn nhân lực 4.0; Nishad Nawaza và đồng sự (2024) phân tích việc áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thực tiễn quản lý nhân lực. Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Du (2014) nghiên cứu đào tạo nhân lực tham mưu chiến lược; Trần Ngọc Hiên (2015) luận giải yêu cầu đối với người làm công tác quản lý khoa học, nhấn mạnh tính đặc thù và năng khiếu quản lý; Nguyễn Tử Hoài Sơn (2018) nghiên cứu nhân lực quản lý nhà nước về kinh tế tại Ninh Bình; Nguyễn Minh Đức (2019) phân tích giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý NCKH ở trường đại học; Vũ Tuấn Hưng và Nguyễn Xuân Bắc (2021) phân tích tính tất yếu phát triển nhân lực KH&CN phục vụ chuyển đổi số; Nguyễn Thị Gấm (2022) đề xuất chính sách thu hút, sử dụng và xây dựng môi trường nghiên cứu trong trường đại học.

Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý NCKH và nhân lực quản lý NCKH trong CAND. Trần Vinh Quang (2016) nghiên cứu chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ CAND; Nguyễn Ngọc Quỳnh (2017) nghiên cứu phát triển nhân lực chất lượng cao của lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy; Nguyễn Thanh Bình (2018) phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và NCKH tại Học viện Cảnh sát nhân dân; Hoàng Ngọc Bích (2019) nghiên cứu xây dựng đội ngũ cán bộ NCKH tại Viện Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an; Vương Thị Ngọc Huệ (2021) khảo sát thực trạng quản lý NCKH ở các học viện, trường đại học CAND giai đoạn 2011 - 2020; Đề tài cấp Bộ của Học viện Cảnh sát nhân dân (2022) nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu chuẩn hóa nhà trường.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù các nghiên cứu đi trước đã phân tích khái niệm nhân lực, nhân lực quản lý KH&CN hoặc quản lý NCKH trong CAND, song chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện về chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này qua việc xác lập nội hàm, tiêu chí đánh giá, khảo sát thực nghiệm toàn diện giai đoạn 2018 - 2022 và đề xuất giải pháp chuyên biệt đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất: luận điểm của C. Mác xem con người là thực thể tự nhiên có tính chất người, quan điểm của Ph. Ăngghen về nguồn gốc tự nhiên của con người, khẳng định của V.I. Lênin về người công nhân, người lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại. Luận án kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với quan điểm "Dân cường thì quốc thịnh", sự kết hợp giữa đức và tài; cùng các chủ trương, đường lối của Đảng, Nghị quyết số 16-NQ/ĐUCA của Đảng ủy Công an Trung ương và Chỉ thị số 02/CT-BCA-V21 của Bộ Công an về công tác khoa học Công an trong tình hình mới; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2018.

Khung phân tích trung tâm của luận án xác định chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND là tổng hòa các thuộc tính thể hiện qua ba phương diện:

  • Thể lực: Nền tảng thể chất, sức bền, khả năng chịu áp lực công việc đặc thù trong lực lượng vũ trang, đánh giá qua phân loại sức khỏe y tế, chỉ số thể trọng (BMI) và tiêu chuẩn rèn luyện thể lực của Bộ Công an.
  • Trí lực: Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng nghề nghiệp (lập kế hoạch, tham mưu, tổ chức, theo dõi, thẩm định và đánh giá hoạt động NCKH).
  • Tâm lực: Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật CAND, tinh thần trách nhiệm và thái độ tận tụy với công việc.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm chắt lọc các yếu tố bản chất, xây dựng hệ thống khái niệm công cụ về nhân lực, quản lý NCKH và chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong trường CAND.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để giải phẫu các tiêu chí cấu thành chất lượng nhân lực, đánh giá các báo cáo số liệu và bảng hỏi khảo sát.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Sử dụng tại Chương 3 để phân tích cơ cấu chức danh, độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn và số lượng đề tài NCKH giai đoạn 2018 - 2022.
  • Phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử: Sử dụng xuyên suốt các chương nhằm bảo đảm các nhận định thực tiễn được đặt đúng trong tiến trình phát triển và bối cảnh cụ thể của lực lượng CAND.
  • Phương pháp dự báo khoa học: Sử dụng tại Chương 4 để nhận diện xu hướng phát triển khoa học công nghệ và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự đến năm 2030.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi từ ngày 01/5/2023 đến ngày 01/8/2023 với quy mô 250 phiếu trên 2 nhóm đối tượng: nhóm 1 gồm 130 cán bộ, lãnh đạo làm công tác quản lý NCKH tại 5 trường CAND (T01, T02, T03, T06, T07); nhóm 2 gồm 120 cán bộ, giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy và NCKH tại các khoa, bộ môn.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm dữ liệu sơ cấp từ điều tra xã hội học và dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết, hồ sơ cán bộ, thống kê đề tài NCKH giai đoạn 2018 - 2022 của 5 trường đại học, học viện CAND.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích có phê phán các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nhóm chủ đề: nghiên cứu về nhân lực và chất lượng nhân lực; nghiên cứu về nhân lực quản lý KH&CN; nghiên cứu về quản lý NCKH trong CAND. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước đã làm rõ khái niệm nhân lực dưới góc độ vốn con người, khẳng định các yếu tố cấu thành gồm thể lực, trí lực, tâm lực và chỉ ra vai trò của nhân lực KH&CN đối với tăng trưởng kinh tế và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đi sâu làm rõ đặc thù của nhân lực quản lý NCKH trong các trường đại học CAND – nơi hoạt động nghiên cứu gắn liền với tính bảo mật, tính chiến đấu và yêu cầu kỷ luật nghiêm ngặt của lực lượng vũ trang. Từ đó, chương 1 xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết: nội hàm và tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ này là gì; thực trạng tại các trường CAND giai đoạn 2018 - 2022 đạt được kết quả, hạn chế gì và do nguyên nhân nào; những quan điểm và giải pháp nào cần được thực hiện đến năm 2030.

Chương 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trường Công an nhân dân

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, khẳng định nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND là đội ngũ cán bộ thuộc đơn vị chuyên trách (Phòng Quản lý NCKH), có sức khỏe, trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, thực hiện chức năng tham mưu kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH. Luận án phân tích đặc điểm lao động mang tính chất tham mưu chuyên sâu, đòi hỏi tính chính xác, tính pháp lý và tính bảo mật cao.

Về tiêu chí đánh giá, tác giả xây dựng hệ thống tiêu chí dựa trên các văn bản quy phạm:

  • Tiêu chí thể lực: Tiêu chuẩn sức khỏe theo Thông tư số 45/2019/TT-BCA của Bộ Công an về tuyển chọn công dân thực hiện nghĩa vụ CAND, tiêu chuẩn chỉ số khối cơ thể (BMI) của người trưởng thành và kết quả kiểm tra rèn luyện thể lực định kỳ.
  • Tiêu chí trí lực: Trình độ học vấn (đại học, thạc sĩ, tiến sĩ), trình độ chuyên môn nghiệp vụ quản lý, trình độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng nghề nghiệp chuyên biệt theo từng vị trí việc làm.
  • Tiêu chí tâm lực: Bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với Đảng, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, kỷ luật lao động CAND và tinh thần trách nhiệm.

Chương này cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng (nhân tố chủ quan thuộc về cá nhân cán bộ và nhân tố khách quan như cơ chế quản lý, môi trường làm việc, chế độ chính sách) và tổng kết kinh nghiệm nâng cao chất lượng nhân lực quản lý NCKH từ các cơ sở giáo dục đại học khác để rút ra bài học cho các trường CAND.

Chương 3. Thực trạng chất lượng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trường Công an nhân dân

Chương 3 khái quát quy mô, cơ cấu và phân tích chi tiết thực trạng chất lượng đội ngũ tại 5 trường đại học CAND (T01, T02, T03, T06, T07) giai đoạn 2018 - 2022.

Tính đến ngày 31/12/2022, tổng số nhân lực quản lý NCKH tại 5 trường được khảo sát là 130 người. Cơ cấu chức vụ và ngạch chức danh được thống kê cụ thể trong bảng dưới đây:

Nhóm chức vụ / Chức danh CAND Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Cơ cấu chức vụ quản lý
Trưởng phòng 05 3,85
Phó Trưởng phòng 16 12,31
Cán bộ 109 83,84
Cơ cấu ngạch chức danh
Chuyên viên cao cấp 13 10,00
Chuyên viên chính 54 41,50
Chuyên viên 46 35,80
Trợ lý CAND 17 12,70
Tổng cộng 130 100,00

Về thực trạng các mặt chất lượng:

  • Về thể lực: Đa số cán bộ đạt tiêu chuẩn phân loại sức khỏe loại 1 và loại 2 theo quy định của Bộ Y tế và Bộ Công an, chỉ số BMI phần lớn ở mức bình thường; tuy nhiên vẫn còn một bộ phận cán bộ chưa tích cực duy trì rèn luyện thể lực thường xuyên.
  • Về trí lực: Đội ngũ có trình độ học vấn tương đối cao (tỷ lệ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chiếm tỷ trọng đáng kể), có hiểu biết về nghiệp vụ CAND. Tuy nhiên, trình độ chuyên môn được đào tạo bài bản về quản lý khoa học, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin chuyên sâu và năng lực ngoại ngữ còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng hợp tác nghiên cứu quốc tế.
  • Về tâm lực: Cán bộ thể hiện lập trường chính trị vững vàng, chấp hành nghiêm kỷ luật CAND, có tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao. Điều này phản ánh qua kết quả phân loại đảng viên và kết quả bình xét thi đua hàng năm với tỷ lệ hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm đa số.

Về hiệu quả hoạt động: Số lượng đề tài NCKH các cấp (cấp Bộ, cấp cơ sở) của các trường CAND giai đoạn 2018 - 2022 được duy trì và gia tăng, phản ánh nỗ lực tham mưu và tổ chức triển khai của đơn vị quản lý NCKH. Song luận án cũng chỉ rõ nguyên nhân hạn chế: công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ quản lý NCKH có lúc chưa đồng bộ; chế độ đãi ngộ đặc thù cho cán bộ quản lý NCKH chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ; cơ sở vật chất, hạ tầng chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu NCKH còn đang trong quá trình hoàn thiện.

Chương 4. Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trường Công an nhân dân đến năm 2030

Chương 4 phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến yêu cầu bảo vệ an ninh trật tự và phát triển lý luận CAND. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2030 tập trung vào các nhóm nội dung:

  • Hoàn thiện công tác tuyển chọn, quy hoạch và bố trí sử dụng nhân lực quản lý NCKH: Tuyển chọn cán bộ có năng lực nghiên cứu, đam mê quản lý khoa học; bố trí đúng người, đúng việc, khắc phục tình trạng phân công chắp vá.
  • Đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng: Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ quản lý khoa học hiện đại, kỹ năng tham mưu chiến lược, ứng dụng công nghệ thông tin, quản trị cơ sở dữ liệu số và bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ.
  • Rèn luyện thể lực và tác phong làm việc: Duy trì nghiêm chế độ rèn luyện thể lực theo tiêu chuẩn CAND, xây dựng phong cách làm việc khoa học, giảm thiểu hành chính hóa.
  • Hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực: Xây dựng chế độ đãi ngộ, khen thưởng hợp lý đối với cán bộ tham mưu quản lý NCKH, tạo lập môi trường học thuật thuận lợi nhằm kích thích tính chủ động và sáng tạo.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn lý luận về chất lượng nhân lực quản lý NCKH dưới góc độ kinh tế chính trị, làm rõ nội hàm khái niệm tiếp cận qua ba phương diện thể lực, trí lực, tâm lực và khả năng thực hiện ba nhóm chức năng tham mưu, tổ chức triển khai, kiểm tra đánh giá hoạt động NCKH trong môi trường đặc thù của các trường CAND. Luận án xác lập bộ tiêu chí đánh giá phù hợp với quy định hiện hành của Nhà nước và Bộ Công an (như Thông tư số 45/2019/TT-BCA).

Về mặt thực tiễn, luận án đã phác thảo bức tranh thực trạng về quy mô, cơ cấu và chất lượng của 130 cán bộ quản lý NCKH tại 5 trường đại học CAND phía Bắc giai đoạn 2018 - 2022 thông qua xử lý dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra thực nghiệm 250 phiếu. Công trình đã chỉ ra đúng những điểm nghẽn về trình độ chuyên môn quản lý khoa học, kỹ năng ngoại ngữ, tin học và tính chất hành chính sự vụ trong hoạt động quản lý. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp có căn cứ khoa học, đóng góp vào việc thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/ĐUCA và chủ trương xây dựng lực lượng CAND chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tế tại 5 cơ sở giáo dục đại học CAND khu vực phía Bắc (T01, T02, T03, T06, T07), chưa mở rộng khảo sát tại các trường đại học CAND khu vực phía Nam cũng như các viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc Bộ Công an. Số liệu thứ cấp phục vụ đánh giá thực trạng dừng lại ở mốc thời gian 31/12/2022.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng địa bàn khảo sát đến toàn bộ hệ thống các học viện, trường đại học CAND trên phạm vi toàn quốc và khối các viện nghiên cứu lực lượng vũ trang. Đồng thời, có thể tiếp tục đi sâu đánh giá tác động cụ thể của trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống quản trị đại học số đến sự thay đổi trong cấu trúc kỹ năng của nhân lực quản lý NCKH sau năm 2023.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với:

  • Cơ quan chỉ đạo và quản lý: Cục Đào tạo, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an, Đảng ủy và Ban Giám hiệu các trường CAND trong việc hoạch định chính sách cán bộ, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ đội ngũ quản lý NCKH.
  • Cán bộ quản lý NCKH: Các đơn vị Phòng Quản lý NCKH có thể tham khảo bộ tiêu chí đánh giá tại Chương 2 để tự đánh giá mức độ đáp ứng vị trí việc làm và xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng số.
  • Giới nghiên cứu học thuật: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý giáo dục, Quản trị nhân lực có thể kế thừa khung phân tích và dữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án để phát triển các nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế nguồn nhân lực trong khu vực công.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực tế tại những cơ sở đào tạo nào và quy mô mẫu khảo sát là bao nhiêu?
Luận án tiến hành khảo sát thực tế tại 5 trường CAND khu vực phía Bắc gồm: Học viện An ninh nhân dân (T01), Học viện Cảnh sát nhân dân (T02), Học viện Chính trị CAND (T03), Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy (T06) và Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND (T07). Tổng quy mô khảo sát bằng phiếu hỏi là 250 phiếu (thực hiện từ 01/5/2023 đến 01/8/2023), gồm 130 cán bộ, lãnh đạo Phòng Quản lý NCKH và 120 cán bộ, giảng viên thuộc các khoa, bộ môn.

2. Quy mô và cơ cấu ngạch chức danh của nhân lực quản lý NCKH tại các trường nghiên cứu được thống kê như thế nào?
Tại thời điểm 31/12/2022, tổng số nhân lực quản lý NCKH tại 5 trường khảo sát là 130 người (gồm 05 Trưởng phòng, 16 Phó Trưởng phòng và 109 cán bộ). Về cơ cấu ngạch: có 13 chuyên viên cao cấp (chiếm 10,0%), 54 chuyên viên chính (chiếm 41,5%), 46 chuyên viên (chiếm 35,8%) và 17 trợ lý CAND (chiếm 12,7%).

3. Khái niệm chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND được luận án xác định gồm những cấu phần nào?
Chất lượng nhân lực quản lý NCKH trong các trường CAND được xác định là chất lượng cán bộ công tác tại đơn vị quản lý NCKH, biểu hiện trên ba phương diện thể lực (sức khỏe, tầm vóc, độ dẻo dai), trí lực (trình độ chuyên môn, lý luận, tin học, ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp) và tâm lực (phẩm chất đạo đức, tính kỷ luật CAND, tinh thần trách nhiệm), nhằm đáp ứng nhiệm vụ tham mưu chiến lược/kế hoạch, tổ chức triển khai và kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH.

4. Luận án sử dụng những tiêu chuẩn quy phạm nào để đánh giá tiêu chí thể lực của nhân lực quản lý NCKH?
Tiêu chí thể lực được đánh giá căn cứ vào quy định tiêu chuẩn sức khỏe tuyển chọn công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia CAND theo Thông tư số 45/2019/TT-BCA của Bộ Công an, tiêu chuẩn chỉ số khối cơ thể (BMI) của người trưởng thành và tiêu chuẩn kiểm tra rèn luyện thể lực hàng năm theo quy định của ngành Công an.

Kết luận

Luận án "Chất lượng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trường Công an nhân dân" của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương là công trình nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị có kết cấu 4 chương, 10 tiết hoàn chỉnh. Luận án đã hệ thống hóa lý luận về chất lượng nhân lực quản lý NCKH tiếp cận qua ba phương diện thể lực, trí lực và tâm lực gắn với các tiêu chuẩn đặc thù của lực lượng vũ trang. Kết quả phân tích dữ liệu thực trạng giai đoạn 2018 - 2022 tại 5 trường CAND phía Bắc đã chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân về cơ cấu chức danh, trình độ nghiệp vụ và kỹ năng công tác. Các nhóm giải pháp được đề xuất có giá trị thực tiễn phục vụ công tác xây dựng, quy hoạch và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý khoa học CAND đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đến năm 2030.