phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng, 10 tiết. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm nâng cao chất lƣợng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trƣờng Công an nhân dân Chương 3. Thực trạng chất lƣợng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trƣờng Công an nhân dân Chương 4.
Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lƣợng nhân lực quản lý nghiên cứu khoa học trong các trƣờng Công an nhân dân đến năm 2030 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC VÀ NƢỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số công trình nghiên cứu về nhân lực, chất lƣợng nhân lực * Một số công trình nghiên cứu nước ngoài Brian Tracy (2017), Recruit and treat talented people (Tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài), [84]. Cuốn sách đã xây dựng đƣợc khung lý luận về nhân lực, trong đó, phân tích đặc điểm của các bộ phận nhân lực: nhân lực quản lý, lao động phổ thông, lao động tay nghề cao; phân tích đến vấn đề đào tạo và phƣơng thức đào tạo lại để giữ chân nhân lực.
Từ nghiên cứu thực trạng các bộ phận nhân lực với những ƣu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của ƣu điểm, hạn chế, tác giả đề xuất các giải pháp về tuyển dụng, thu hút nhân tài đối với từng bộ phận nhân lực gắn với chính sách đãi ngộ và môi trƣờng làm việc; trong đó đối với nhân lực chất lƣợng cao thì môi trƣờng làm việc, môi trƣờng phát triển và phát huy sáng tạo của ngƣời lao động đƣợc ƣu tiên đặt lên hàng đầu. By Joseph Evans Agolla (2018), Human Capital in the Smart Manufacturing and Industry 4.0 Revolution (Nguồn nhân lực trong sản xuất thông minh và cách mạng công nghiệp 4. Bài báo là một trong những công trình nổi bật của By Joseph Evans Agolla khi nghiên cứu về nguồn nhân lực trƣớc tác động cuộc cách mạng 4. Trên cơ sở, khái lƣợc một số vấn đề lý luận liên quan đến nguồn nhân lực - vốn con ngƣời và làm nổi bật vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong sản xuất thông minh và Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ nói chung, tác giả khẳng định con ngƣời vốn không chỉ sáng tạo, mà còn là vốn siêu nhân; vì thế nguồn nhân lực trong cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đã tạo ra các giải pháp sáng tạo chƣa từng có trong lịch sử 11 tiến hóa.
Điều đó cho thấy, nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao có vai trò ngày càng quan trọng trong thời đại ngày nay. Tác giả bài viết đăng trên tạp chí cho rằng, vốn nhân lực là chất lƣợng của các kỹ năng và kiến thức đƣợc nắm giữ bởi nhân lực trong tổ chức và cách họ sử dụng các kỹ năng và kiến thức vì lợi ích của tổ chức nơi họ làm việc. Ngoài ra, các phẩm chất nhƣ thói quen làm việc tốt, đúng giờ và sức khỏe tổng thể là những yếu tố quan trọng trong thành phần vốn con ngƣời. Từ đó, khẳng định lƣợng lao động là tài sản có giá trị nhất trong số các tài sản có giá trị của một tổ chức (doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, hay tổ chức kinh tế khác).
Với ý nghĩa nhƣ vậy nên các tổ chức luôn chú trọng đầu tƣ vào vốn nhân lực, thông qua việc khuyến khích nhân viên học tập nâng cao trình độ, kỹ năng và kiến thức nhƣ hỗ trợ kinh phí, thời gian. Mặc dù chƣa đƣa ra quan niệm hoàn chỉnh về vốn nhân lực, hay phát triển nguồn nhân lực nhƣng một số yếu tố của nội hàm quan niệm đã đƣợc tác giả trình bày khá rõ nhƣ: các kỹ năng và kiến thức đƣợc nắm giữ bởi nhân lực trong tổ chức và cách họ sử dụng các kỹ năng và kiến thức vì lợi ích của tổ chức nơi họ làm việc, hay các phẩm chất nhƣ thói quen làm việc tốt, đúng giờ và sức khỏe. George Emil Palade (2020), The Importance of Human Resources in the Continuous Improvement of the Production Quality (Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong việc bảo đảm chất lƣợng sản xuất), [91]. Bài viết tạp chí của George khẳng định, nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất.
Theo tác giả, việc quản lý nguồn nhân lực có thể đƣợc áp dụng để tăng năng suất lao động, tăng khối lƣợng và chất lƣợng sản phẩm; trên cơ sở phân tích các nguyên nhân ảnh hƣởng đến việc ngƣời lao động tham gia vào quá trình cải tiến kỹ thuật trong sản xuất. Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế để kích thích nguồn nhân lực tham 12 gia tích cực vào các sáng kiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động và lợi nhuận. Gu XingShu, Zhang ZiXiang (2021), Analysis on Intelligent Management of Human Resources in Urban Community under Normalized Epidemic Prevention and Control (Phân tích về Quản lý nguồn nhân lực thông minh ở cộng đồng đô thị trong điều kiện phòng, chống dịch bệnh bình thƣờng), [92]. Qua bài viết trên tạp chí trên, nhóm tác giả đề cập và khẳng định vai trò quan trọng của cộng đồng đô thị trong việc thúc đẩy khả năng toàn diện của quản trị xã hội ở Trung Quốc.
Từ việc phân tích 3 vấn đề của quản lý nguồn nhân lực ở cộng đồng đô thị trong điều kiện phòng, chống dịch bệnh bình thƣờng, chỉ ra những điểm hạn chế yếu kém là: bố trí nhân lực chƣa hợp lý; tiêu thụ nội bộ lớn; nhân lực dự phòng ít; khả năng hội nhập yếu, cơ chế giám sát chƣa hoàn thiện và thiếu cơ chế khuyến khích nguồn nhân lực. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm tối ƣu hóa cho việc quản lý nguồn nhân lực của các tổ chức quản lý cộng đồng nhƣ: sự định hƣớng khoa học của chính quyền địa phƣơng; sự hỗ trợ của công nghệ và việc quản lý nguồn nhân lực thông minh ở cộng đồng đô thị phải dựa trên nền tảng công nghệ thông tin. Ichsan đã cùng khẳng định trên tạp chí chuyên ngành về vị trí, vai trò quan trọng của các cơ quan quản lý xây dựng ở Indonesia đến nâng cao năng suất của các dự án xây dựng, trong đó quản lý nguồn nhân lực ảnh hƣởng trực tiếp đến năng suất các dự án. Bài viết chỉ ra, mối quan hệ giữa quản lý nhân lực với tiến độ các dự án xây dựng; nếu năng lực, vai trò của ngƣời quản lý dự án xây dựng tốt thì sẽ góp phần thúc đẩy tiến độ và năng 13 suất hoàn thành của các dự án xây dựng và ngƣợc lại nếu năng lực của ngƣời quản lý còn hạn chế hoặc không phát huy đƣợc vai trò của họ thì sẽ làm ảnh hƣởng tới tiến độ các dự án.
Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý nhân lực trong các các cơ quan quản lý xây dựng nhƣ: tăng cƣờng sự giám sát của ngƣời đứng đầu; có chính sách bồi dƣỡng, đào tạo chuyên môn cho cán bộ quản lý; thực hiện nghiêm quy trình, kế hoạch giám sát theo các giai đoạn; hỗ trợ công nghệ cho cán bộ làm công tác quản lý. HongWei Zhanga, Fang Benb, Meng Qin (2024), Mineral resources, tourism, human capital, and carbon neutrality: A path towards balanced and sustainable development (Tài nguyên khoáng sản, du lịch, vốn nhân lực và trung hòa carbon: Con đƣờng hƣớng tới phát triển cân bằng và bền vững), [93]. Bài viết trên tạp chí về chính sách cho nguồn nhân lực của các tác giả đã nghiên cứu và khẳng định một nghịch lý đã xảy ra khi các quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên lại có tốc độ tăng trƣởng và quy môn nền kinh tế lớn hơn các quốc gia giàu tài nguyên. Trong xu thế hiện nay khi nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm, suy thoái môi trƣờng diễn ra ngày càng nghiêm trọng thì vấn đề phát triển bền vững mà cơ sở chủ yếu dựa vào vốn nhân lực của mỗi quốc gia.
Nghiên cứu trên cơ sở đánh giá khảo sát nền kinh tế Trung Quốc từ 1990 đến năm 2020 thông qua điều tra ảnh hƣởng của tài nguyên thiên nhiên, du lịch, đô thị hóa và vốn nhân lực đến chất lƣợng môi trƣờng. Dựa trên kết quả thực nghiệm, các chuyên gia chính sách nên phát triển các chiến lƣợc nhằm hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy tăng trƣởng thân thiện với môi trƣờng để giải quyết các thách thức môi trƣờng. Hơn nữa, cần phải thúc đẩy du lịch bền vững và phải dựa vào nguồn vốn nhân lực là chủ yếu. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị đƣa ra nhằm phát triển bền vững nền kinh tế của Trung Quốc trên cơ sở dựa vào vốn nhân lực của nƣớc này.
14 * Một số công trình nghiên cứu trong nước Nguyễn Ngọc Minh (2018), Tình hình nhân lực Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực [62]. Bài viết trên Tạp chí Công thƣơng của tác giả đã phân tích, đánh giá thực chất tình hình nhân lực Việt Nam, trong đó tập trung phân tích tình hình nhân lực nằm trong nhóm lao động trong độ tuổi lao động; nhóm lao động qua đào tạo; cơ cấu độ tuổi lao động; tỷ lệ lao động thất nghiệp và tình trạng thiếu việc làm ở Việt Nam trong 02 năm 2016, 2017. Bằng số liệu thực tiễn, tác giả đã phân tích, đánh giá và đƣa ra một số kết luận về tình hình nhân lực Việt Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian tới, tập trung vào các giải pháp: nâng cao trình độ văn hóa thúc đẩy mạnh cải cách giáo dục; tiếp tục đổi mới quản lý nhà nƣớc về phát triển nguồn nhân lực; đảm bảo nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực.
Ngô Ngân Hà (2019), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, [39]. Trong bài viết đăng trên tạp chí, tác giả đề cập vai tr quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Học viện, góp phần xây dựng Học viện phát triển ngày càng vững mạnh. Trên cơ sở phân tích thực trạng nguồn nhân lực của Học viện theo cơ cấu độ tuổi và t nh độ đào tạo, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của Học viện trong thời gian tới.