CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Tổng quan về nghiên cứu khoa học và quản lý đề tài nghiên cứu khoa học 1.Khái niệm nghiên cứu khoa học và quản lý đề tài nghiên cứu khoa học. Khái niệm nghiên cứu khoa học : a) Khái niệm về khoa học Khoa học (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ. Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp và theo đó có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận: - Ở mức độ chung nhất, khoa học có thể được hiểu là một hệ thống tri thức về thế giới khách quan.
Ở nước ta, theo Luật Khoa học và Công nghệ (được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa x, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 9/6/2000): Khoa học là hệ thống trí thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. [Trích “Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 ban hành ngày 18/06/2013] - Đứng ở góc độ hoạt động, khoa học có thể được hiểu là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của loài người. Đó là một loại hình hoạt động có mục đích khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới để ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống xã hội. Về thực chất, ở góc độ này, khoa học được hiểu là hoạt động nghiên cứu khoa học, là quá trình tạo ra tri thức mới cho nhân loại.
Từ khái niệm trên có thể thấy rằng Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, 8 không còn phù hợp. Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy.
Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội.
Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các họat động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học.
Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… [Theo Website http://truongchinhtrina.aspx?NewsID=643] 9 b)Khái niệm nghiên cứu khoa học: Thuật ngữ “nghiên cứu” được hiểu là một quá trình quan sát kỹ càng, thu thập thông tin chính xác, tìm hiểu có hệ thống và chi tiết, để có hiểu biết sâu sắc, đầy đủ hơn về một vấn đề nào đó, một sự kiện nào đó, một đối tượng nào đó. Người đang làm công việc nghiên cứu gọi là “nghiên cứu viên”, thường họ làm trong một cơ quan nghiên cứu nào đó. Ở nước ta có rất nhiều cơ quan như vậy: Viện Toán học, Viện Vật lý, Viện Tin học, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng,Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp… Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm … dựa trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới (đây là hướng nghiên cứu hàn lâm) hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn (đây là hướng nghiên cứu ứng dụng).
Khái niệm về quản lý đề tài nghiên cứu khoa học a) Khái niệm về đề tài. Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa hoc, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau: Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.
Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực. Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập 10 một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội,. Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án.
Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định. Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ. Thông thường, có bốn dạng đề tài như sau: - Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản.
- Đề tài nghiên cứu ứng dụng. - Đề tài nghiên cứu triển khai. - Đề tài nghiên cứu thăm dò: đây là dạng đề tài đặc biệt trong lĩnh vực khai khoáng và về thực chất đề tài này là dạng đề tài nghiên cứu và triển khai (R&D). b) Khái niệm về quản lý đề tài Quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Ọuản lý là hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm đat được một mục tiêu nào đó một cách có hiệu quả. Như vậy, quản lý là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để điều khiển nguồn lực thực hiện các tiến trình để giải quyết các vấn đề. [Theo « Giáo trình quản lý khoa học » NXB Đại học Kinh tế Quốc dân 2012] Thống nhất với khái niệm đề tài nghiên cứu khoa học là một mô hình tổ chức nghiên cứu khoa học, như vậy quản lý đề tài khoa học không chỉ đơn thuần chỉ là việc quản lý một sản phẩm mang tính tư liệu hoặc tài liệu nghiên cứu khoa học mà thực chất đó là một phần của quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, mà cụ thể là quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học dạng đề tài. Từ đó suy ra, quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học là việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra kiểm soát việc đưa ra đề tài, phân phối đề 11 tài, đăng ký đề tài, tiến hành thực hiện và bảo vệ các đề tài nghiên cứu khoa học, và việc ứng dụng các bài nghiên cứu đó vào thực tế.
Đặc điểm của nghiên cứu khoa học và quản lý đề tài nghiên cứu khoa học. Một đề tài nghiên cứu khoa học phải có ý nghĩa khoa học nhằm bổ sung nội dung lý thuyết của khoa học; làm rõ một số vấn đề lý thuyết vốn tồn tại; xây dựng cơ sở lý thuyết mới hoặc xây dựng nguyên lý các giải pháp khác nhau trong kỹ thuật, công nghệ, tổ chức, quản lý… Bên cạnh đó, đề tài phải có tính thực tiễn hỗ trợ xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội; nhu cầu kỹ thuật của sản xuất; nhu cầu về tổ chức, quản lý, thị trường… Đồng thời, phải có tính cấp thiết đối với thời điểm tiến hành nghiên cứu, giải quyết những vấn đề nóng bỏng, mang tính thời sự và đem lại giá trị thiết thực cho lý luận và thực tiễn, đóng góp cho sự phát triển của khoa học và đời sống. Một đề tài nghiên cứu khoa học luôn mang tính mới mẻ, thời sự, hướng vào những lĩnh vực hoạt động phức tạp, đa dạng của khoa học và đời sống, hướng tới những vấn đề chưa được giải quyểt triệt để trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nào đó… Một đề tài nghiên cứu khoa học cần phù hợp với thực tế và đem lại hiệu quả; cập nhật, mới mẻ, phù hợp với xu thế đi lên của sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ; đồng thời đảm bảo tính xác định: mức độ, xác định và phạm vi. Trong phân loại nghiên cứu khoa học, UNESCO chia ra 3 loại: nghiên cứu cơ bản (fundamental research), nghiên cứu ứng dụng (applied research) và triển khai thực nghiệm, gọi tắt là triển khai (experimental development).
Tài liệu Manuel pour les statistiques relatives aux politique scientifiques et techniques của UNESCO lần lượt trình bày các định nghĩa như sau: 12 NCCB được định nghĩa là những nghiên cứu (lý thuyết hoặc thực nghiệm) nhằm tạo ra các tri thức mới về căn nguyên của các sự vật và hiện tượng, chưa có một ứng dụng đặc biệt nào. Tuy trong định nghĩa ghi là “chưa có một ứng dụng đặc biệt nào”, nhưng UNESCO cũng chia làm hai loại NCCB: NCCB thuần tuý (không xét đến ứng dụng thực tế) và NCCB định hướng (đã xét đến phương hướng ứng dụng). NCƯD là những nghiên cứu nhằm tạo ra các tri thức mới, nhưng chủ yếu là nhằm vào một mục đích hoặc mục tiêu thực tế đặc biệt. NCTK được định nghĩa là những nghiên cứu hoặc thực nghiệm nhằm tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới, các hệ thống và dịch vụ mới nhằm hoàn thiện những sản phẩm vốn tồn tại.
Đặc điểm nghiên cứu khoa học.