CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khoa học Có nhiều định nghĩa về khoa học: - Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về mọi qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy [23]. - _ Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy [34].
Hệ thống tri thức được hiểu là tri thức khoa học. Khác với tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học là những được hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học. Tri thức khoa học là sự tông kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rac dé khái quát hóa thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ ban chất, nó được tô chức trong khuôn khô các bộ môn khoa học. - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành va phat triển trong quá trình con người nhận thức và cải tạo tự nhiên, phát triển xã hội và tự hoàn thiện chính bản thân con người.
Hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội, tư duy va bao gồm tat cả những điều kiện, những yếu tố của sự sản xuất này là: nhà khoa học, cơ quan khoa học, phương pháp, thông tin khoa học [32]. Khoa học tập hợp những tri thức đã được nghiên cứu, được tích lũy, hệ thống hóa về qui luật tự nhiên, xã hội và tư duy. Khoa học còn là tập hợp các phương pháp, phương tiện và lực lượng được ứng dụng và các quá trình nghiên cứu nhằm đạt được những kết quả thực tiễn. Với tư cách là hệ thong tri thức khoa hoc là một phần văn hóa nhân loại.
Nghiên cứu khoa học Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa quan niệm về NCKH. Hoạt động NCKH nhằm hai mục đích cơ bản: Nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Hai mục đích đó được thực hiện thông qua những chức năng cụ thê mô tả, giải thích, dự báo và sáng tạo. Một số định nghĩa tiêu biểu: 11 - NCKH là một quá trình nghiên cứu hiện thực khách quan, phát hiện ra những hiểu biết mới mang tính qui luật, có tính chân lý hoặc tìm ra được những qui luật mới, chân lý mới trong hiện thực đó.
- NCKH là hoạt động nhận thức có đặc trưng tạo ra giá trị nhận thức mới trước đó không ai biết, để giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là những điều chưa ai biết mới nảy sinh và một bên là những hiểu biết đã có. Những giá trị nhận thức mới đó sẽ giúp loài người đi sâu vào bản chất, qui luật thế giới và do đó nâng cao năng lực nhận thức và cải tạo thế giới của loài người và năng lực tập thê của xã hội. NCKH có tác dụng bé sung, hoan chinh va phat trién khoa hoc [26]. - NCKH là hoạt động có mục đích, có kế hoạch được tô chức chặt chẽ của nhà khoa học nhằm khám phá ra bản chất và qui luật của thé giới khách quan và vận dụng chúng vao cải tao thế giới [44].
- NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất của sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thé giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật dé cải tạo thế giới [23]. - NCKH là một hoạt động sáng tạo và phức tạp của các nhà khoa hoc nhằm nhận thức thế giới và cải tạo thế giới [38]. - NCKH là hoạt động phát hiện tìm hiểu các hiện tượng sự vật, qui luật tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vao thực tiễn. NCKH gồm NCCB, NCUD, NCTK [34].
Từ các góc độ khác nhau, mỗi định nghĩa có nhấn mạnh một khía cạnh, làm nỗi lên một trọng tâm làm cho việc nhận thức về NCKH trở nên sâu sắc hơn, có những điểm tương đồng trong các định nghĩa trên về các đặc điểm của NCKH: - NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt, đó là hoạt động nhận thức thế gidi CÓ tô chức, có kế hoạch do các nhà khoa học thực hiện. - Đối tượng NCKH là những sự kiện, hiện tượng của thế giới khách quan mà loài người chưa đủ kiến thức dé giải thích. - Muc đích NCKH là phát hiện ra bản chất và các qui luật vận động của thế giới vận dụng vào việc cải tạo thế giới phục vụ cho cuộc sống con người thông qua những chức năng cụ thể: mô tả, giải thích, dự báo và sáng tạo. 12 - San phẩm của NCKH là hệ thống trí thức mới, hệ thống chân lý khách quan, đã được kiểm nghiệm bằng các phương pháp khác nhau.
- NCKH là hoạt động được tiến hành bằng một hệ thống các giải pháp, phương pháp, thủ thuật với những phương tiện kỹ thuật hỗ trợ. - Dac điểm của NCKH: Tính mới, tinh thông tin, tính rủi ro, tính tin cậy, tính khách quan, tính kế thừa, tính cá nhân và tính phi kinh tế. Qua những đặc điểm trên cho thấy: NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt, có tổ chức, có mục tiêu của các nhà khoa học được tiến hành bằng hệ thống phương pháp, phương tiện kỹ thuật hiện đại, nhằm phát hiện bản chất qui luật thế giới, sáng tạo ra hệ thống tri thức mới, hệ thống chân lý khách quan được vận dụng vao cải tạo thế giới phục vụ đời sống kinh tế xã hội của con người. Hoạt động KH&CN là sản xuất tri thức nó khác với các hoạt động sản xuất vật chất, nó có những đặc điểm: - __ Chuyến dịch khoa học (/d đặc trưng quan trọng của phát triển KH&CN hiện dai); - Linh hoạt, uyên chuyển (do đặc điểm tự thân lao động KH&CN quyết định); - D6 tự do của bản thân lao động KH&CN.
* Dé tai: Đề tai là một hình thức tổ chức NCKH được đặc trưng bởi một nhiệm vụ NCKH và do một người hay một nhóm người thực hiện. Đề tài NCKH phải có các điều kiện: Sự vật cần nghiên cứu là van đề mới chưa được biết đến, chưa ai nghiên cứu hoặc chưa ai công bố kết quả nghiên cứu. Khi đề tài NCKH hoàn thành sẽ cung cấp những thông tin có giá trị khoa học về lý thuyết/ ứng dụng hoặc cả lý thuyết và ứng dụng. Đề tài NCKH có tính cấp thiết đối với lý luận và thực tiễn, phải có tinh mới , khi giải quyết được đề tai sẽ làm cho khoa học phát triển, bố sung vào kho tàng tri thức những thông tin mới.
Có nhiều cách phân loại đề tài NCKH - Phan loại theo cấp quản lý: + Đề tài cấp Nhà nước: là đề tài do cấp Trung ương quản lý, co quan quản lý trực tiếp toàn điện là Bộ KH&CN. Các đề tài cấp Nhà nước là những nhiệm vụ kế hoạch KH&CN có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quôc dân, củng cô quôc phòng và nâng cao đời sông nhân dân. 13 + Đề tài cấp Bộ: là dé tài do Bộ chủ quản/ cơ quan ngang Bộ trực tiếp quản lý toàn diện. Các đề tài cấp Bộ thực hiện những nhiệm vụ KH&CN có ý nghĩa quan trọng đối với các Bộ, Ngành, Tỉnh, Thành phố cần phải giải quyết nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sông của nhân dân và củng cố quốc phòng trong địa phương.
Đề tài cấp Cơ sở: là đề tài do cơ sở trực tiếp quản lý. - Phan loại theo phạm vi tác động, mức độ đầu tư về kinh phí cho nghiên cứu: Dé tài: định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, có thé chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế. - Phan loại theo dao tao: Luận án nghiên cứu sinh (/iến sp): Luận án tiến sỹ trình bay có hệ thống một vấn đề khoa học của nghiên cứu sinh dé bảo vệ giành học vi tiến sy. + Luận văn thạc sỹ: Luận văn thạc sỹ trình bay có hệ thống một vấn đề khoa học của học viên cao học đê bảo vệ giành học vi thạc sỹ.
Luận văn tốt nghiệp: là chuyên khảo tổng hợp sau khi kết thúc chương trình đại học dé bảo vệ lay bằng tốt nghiệp dai học, nó được gọi là đề tài nghiên cứu khi đảm bảo những đặc trưng của một công trình NCKH. (gợi là đồ án tốt nghiệp đối với những ngành nghiên cứu về khoa học kỹ thuật; luận văn cử nhân đối với những ngành nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn) - Phan loại theo tính chất sản phẩm NCKH Theo tính chất của sản phẩm NCKH, thông thường, người ta phân chia NCKH thành 3 loại [23]: + Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới. Có nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng (nghiên cứu nên tảng và nghiên cứu chuyên đề).
+ Nghiên cứu ứng dung: là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản dé giải thích một sự vật hoặc tao ra những nguyên lý mới về các giải pháp. 14 + Triển khai thực nghiệm: gọi tắt là triển khai, là sự vận dụng các lý thuyết dé đưa ra các vật mau va công nghệ san xuất vật mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Nói đến nghiên cứu và triển khai là để nói nên một cách phân loại NCKH. Trong trường hợp này NC&TK được phân loại theo các giai đoạn của NCKH.
Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: - Tao mẫu: Kết quả nghiên cứu tạo ra các vật mẫu hoặc các sản phẩm mẫu, thường là đơn chiếc, có tính năng hoặc hiệu quả kinh tẾ - kỹ thuật vượt trội so với các sản phẩm cùng loại hiện hành. - Tao quy trình: kết quả nghiên cứu tạo ra quy trình sản xuất mới. - Lam thí nghiệm loạt nhỏ: Bước nghiên cứu cuối cùng nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất tạo ra sản phẩm mới ở mức độ loạt nhỏ, sẵn sảng cho sản xuất hàng loạt trên cơ sở dây chuyền công nghệ mới. * Dự án Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thé về kinh tế và xã hội.