Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau về đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng trong lĩnh vực y khoa, đặc biệt là các nước có bề dày phát triển về kiểm định chất lượng như Hoa Kỳ, Hà Lan, Úc. Tại Hoa Kỳ, vào những năm 1866-1959, Báo cáo Flexner (Flexner Report) [32] là sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục y tế của Mỹ và Canada.
Đó là những đánh giá về tình trạng giáo dục y tế vào đầu những năm 1900 tại Bắc Mỹ, tạo nên cuộc cách mạng trong đào tạo y khoa của Mỹ, tác động lớn tới sự phát triển nền giáo dục y tế hiện đại trên thế giới. Tại thời điểm báo cáo, nhiều trường y là trường độc quyền, vì lợi nhuận hơn là cho giáo dục. Các kiến nghị chính của báo cáo bao gồm: giảm số lượng trường y (từ 155 xuống còn 31) và theo đó giảm số lượng bác sĩ yếu kém, nâng cao yêu cầu đầu vào, đào tạo bác sĩ thực hành theo phong cách khoa học, khuyến khích giảng viên y khoa tham gia nghiên cứu, cho phép các trường y khoa kiểm soát chỉ dẫn lâm sàng trong bệnh viện, củng cố quy định của nhà nước về cấp chứng chỉ y khoa. Tất cả các kiến nghị này đã tác động đến chất lượng đào tạo trong lĩnh vực y khoa.
Tinh thần của Flexner về việc hạn chế mở trường và đào tạo bác sĩ ồ ạt, tăng cường chất lượng sinh viên đầu vào, ưu tiên cơ hội thực hành lâm sàng tại bệnh viện và tăng cường quản lý cấp phép đầu ra theo tiêu chuẩn quốc gia thống nhất để thiết lập năng lực tối thiểu chung cho bác sĩ tốt nghiệp hành nghề là bài học lớn cho Y tế Việt Nam hiện nay. Năm 2011, Hiệp hội giáo dục y khoa thế giới (World Federation for Medical Education, viết tắt là WFME) đã đưa ra khung tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng cho các chương trình đào tạo y khoa trên thế giới với sự đồng thuận cao của các chuyên gia toàn cầu. Có 3 bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng y khoa bao gồm: Giáo dục y 9 Luan van khoa cơ bản (Basic Medical Education), Giáo dục sau đại học (Post Graduate Medical Education) và Phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development). Đây là các tiêu chuẩn khung giúp phát triển và đánh giá chương trình giáo dục y tế, hỗ trợ các cơ sở đào tạo y tế xác định được những điểm mạnh và điểm cần cải thiện chất lượng.
Tất cả các tiêu chuẩn đều là hướng dẫn, không phải là các quy tắc cố định. Tiêu chuẩn WFME được xây dựng để giúp các trường y đưa ra những quyết định phù hợp với bối cảnh, giúp xác định mức độ tương đương về cấu trúc, quy trình và sản phẩm đầu ra của các trường y khoa trên toàn thế giới. Các cơ quan quản lý ở các quốc gia có thể xem xét các tiêu chuẩn liên quan và xây dựng bộ tiêu chuẩn riêng phù hợp với bối cảnh thực tế. Cốt lõi của chương trình đào tạo y khoa bao gồm lý thuyết cơ bản và thực hành y học, đặc biệt là y sinh học cơ bản, khoa học xã hội và hành vi, kỹ năng lâm sàng, khả năng giao tiếp và đạo đức y tế,.
Các yếu tố này phải được tất cả các trường y khoa quan tâm nhằm đảm bảo đào tạo ra các nhà chuyên môn có chất lượng.1: Các tiêu chuẩn WEME Giáo dục y khoa cơ bản Giáo dục y khoa sau đại Phát triển nghề nghiệp học liên tục 1. Sứ mạng và mục tiêu 1. Sứ mạng và đầu ra 1. Sứ mạng và đầu ra 2.
Chương trình đào tạo 2. Quá trình đào tạo 2. Phương pháp học 3. Đánh giá sinh viên 3.
Đánh giá đào tạo 3. Kế hoạch và tài liệu 4. Người học được đào tạo 4. Cán bộ giảng dạy 5.
Người cung cấp PCD 6. Các nguồn lực đào tạo 6. Các nguồn lực đào tạo 6. Các nguồn lực đào tạo 7.
Đánh giá chương trình 7. Đánh giá đào tạo 7. Đánh giá phương pháp đào tạo và năng lực 8. Quản lý và điều hành 8.
Quản lý và điều hành 8. Đổi mới liên tục 9. Đổi mới liên tục 9. Đổi mới liên tục Nguồn: Nguyễn Thế Hiển [8] 10 Luan van Mỗi tiêu chuẩn trên được chia thành các tiêu chuẩn/yêu cầu cụ thể, kèm theo phần định nghĩa, hướng dẫn và giải thích.
Bộ tiêu chuẩn quốc tế trên có thể được sử dụng ở phạm vi toàn cầu như một công cụ để đảm bảo chất lượng và phát triển các chương trình giáo dục y khoa cơ bản. Điều này có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như: Tự đánh giá: cơ sở giáo dục sử dụng bộ công cụ để tự đánh giá chất lượng và cải tiến các quy trình, hoạt động. Các hướng dẫn này có thể được coi là cẩm nang giúp các trường y đáp ứng các Tiêu chuẩn toàn cầu của WFME trong Giáo dục Y khoa cơ bản. Đánh giá đồng cấp: cơ sở giáo dục được đánh giá và tư vấn bởi các ủy ban/tổ chức bên ngoài Kiểm định: tùy thuộc vào nhu cầu, bộ tiêu chuẩn, hướng dẫn của WFME có thể được sử dụng để các quốc gia, cơ quan kiểm định tiến hành đánh giá/kiểm định các trường đào tạo y khoa.
Trong bài viết “Quality assuarance of medical education: a case study from Switzerland”, tác giả Schiflo và Heusser đã đưa ra các tiêu chí đánh giá/kiểm định các chương trình y khoa dựa trên khung tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng y khoa của WFME theo bảng dưới đây [24].2: Các tiêu chí kiểm định các chương trình y khoa dựa trên khung tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng y khoa của WFME Những tiêu chuẩn về Lĩnh vực đánh giá chất lượng Sức mệnh và mục tiêu 1.1 Tuyên bố về sứ mệnh và những mục tiêu 1.2 Những phát biểu về sứ mệnh và mục tiêu 1.3 Tự chủ về nội dung khoa học 1.4 Chuẩn đầu ra trong giáo dục Chương trình giáo dục 2.1 Mẫu chương trình và phương pháp truyền đạt 2.2 Phương pháp khoa học 11 Luan van 2.3 Khoa học về Y sinh cơ bản 2.4 Khoa học xã hội và hành vi và đạo đức y khoa 2.5 Khoa học và những kĩ năng lâm sàng 2.6 Cấu trúc và thời lượng chương trình 2.7 Quản lí chương trình 2.8 Tính liên kết với việc thực hành y khoa và hệ thống chăm sóc sức khỏe Những đánh giá từ sinh 3.1 Phương pháp đánh giá viên 3.2 Mối liên hệ giữa việc đánh giá và học tập Sinh viên 4.1 Việc lựa chọn và chính sách nhập học 4.2 Đầu vào của sinh viên 4.3 Hỗ trợ và tư vấn sinh viên 4.4 Đại diện cho sinh viên Đội ngũ cán bộ học thuật 5.1 Quy định về tuyển dụng 5.2 Chính sách phát triển nhân lực Tài nguyên giáo dục 6.1 Cơ sở vật chất 6.2 Nguồn lực đào tạo lâm sàng 6.3 Công nghệ thông tin 6.5 Học hàm, học vị 6.6 Chương trình trao đổi trong giáo dục Đánh giá chương trình 7.1 Cơ chế cho việc đánh giá chương trình 7.2 Phản hồi từ giảng viên và sinh viên 7.3 Kết quả học tập của sinh viên 7.4 Mối liên hệ với các bên có liên quan Việc quản lí và thủ tục 8.1 Việc quản lí hành chính 8.2 Sự lãnh đạo về học thuật 12 Luan van 8.3 Ngân sách cho giáo dục và việc cấp phát các nguồn lực 8.4 Đội ngũ cán bộ và việc quản lí hành chính 8.5 Việc tương tác với Bộ Y tế Việc đổi mới liên tục và đảm bảo chất lượng Tóm tắt về điểm mạnh và hạn chế Tại Hà Lan, Vroeijenstijn A. (1995) – một chuyên gia giáo dục nổi tiếng trên thế giới, với nghiên cứu “Quality Assuarance in Medical Education” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ĐBCL trong đào tạo y khoa. Các trường/khoa đào tạo về y học phải đảm bảo chất lượng và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình cung cấp, trong đó cần quan tâm đến ĐBCL bên trong và ĐBCL bên ngoài. ĐBCL bên trong là nhiệm vụ của tất cả các bên liên quan trong trường kể cả sinh viên.
Tuy nhiên, một hệ thống ĐBCL bên trong với chức năng tốt là chưa đủ, các bên liên quan bên ngoài (các tổ chức ngành y, chính phủ và các cơ quan quốc tế) cũng đặt ra yêu cầu về chất lượng đối với giáo dục y khoa, nên họ cũng tham gia đánh giá chất lượng [27] Kiểm định sẽ là công cụ được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới để theo dõi, duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục y tế. Hillen (2010) với nghiên cứu “Quality assurance of medical education in the Netherlands: programme or systems accreditation?” đánh giá cao tầm quan trọng của kiểm định chất lượng CTĐT cử nhân và thạc sĩ y khoa. Việc kiểm định nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục y khoa, thông qua việc xác nhận các trường y có khả năng cung cấp tốt về chất lượng đầu ra cũng như chương trình đào tạo. Điều này đảm bảo cho các trường y đào tạo những bác sĩ phù hợp để phục vụ nhu cầu của xã hội, đồng thời để thể hiện cho các tổ chức và các quốc gia biết những trường y được công nhận là trường có đủ năng lực cung ứng các bác sĩ đúng theo tiêu chuẩn thống nhất quốc tế [22].
Ngoài ra, một số tác giả cũng tiến hành nghiên cứu về chất lượng trong giáo dục đại học như Parasuraman, A. Berry (1998), “Servqual: A multipleitem scale for measuring consumerperceptions of service quality” [23]; Tim 13 Luan van L. Bên cạnh đó, trên thế giới cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về sự hài lòng đối với chất lượng đào tạo trong y khoa thông qua sự hài lòng của sinh viên. Nhóm tác giả Vahid Ziaee, Zahra Ahmadinejad, Ali Reza Morravedji (2000) của trường Đại học Khoa học y tế Tehran [28] đã nghiên cứu về "An evaluation on medical students’ satisfaction with clinical education and its effective factors”.
Nghiên cứu này đánh giá về sự hài lòng của sinh viên y khoa với giáo dục lâm sàng và các yếu tố hiệu quả của nó. Đối tượng khảo sát là sinh viên y khoa hai năm cuối đang trong thời gian thực tập y khoa lâm sàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng chung với giáo dục lâm sàng là 38,8%; giảng dạy ngoại trú là 52% và giáo dục lý thuyết là 70,8%.