Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng NNL tại Cục Hàng không dân dụng Lào Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng NNL tại Cục Hàng không dân dụng Lào 4 C ƣơn NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LU N VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. NNL và chất lƣợng NNL 1. Nhân lực và Nguồn nhân lực 1. Nhân lực Nhân lực là một trong những nhân tố chủ chốt quyết định sự thành bại của cả một đơn vị, Nhân lực có thể nói là then chốt quyết định đến nhiều khía cạnh của các tổ chức, nó tạo nên thành tố trong tổ chức, hướng đến sự tồn tại và phát triển của đơn vị, tổ chức.vì vậy với các nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực này, với những cách tiếp cận khác nhau ngày càng thấy rõ hơn.
Nhân lực là một trong các yếu tố cấu thành nên đơn vị ngoài các yếu tố bổ trợ khác như vật lực và cơ sở vật chất. Tác giả Phạm Thành Nghi &cs (2014) cho rằng: Một quốc gia ở 1 thời điểm nhất định trong 1 khoảng thời gian nhất định , nhân lực được xem là tổng thể năng lực con người (đặc biệt là năng lực, sức tiềm tàng lao động) [12, tr24]. Theo góc nhìn khác, nghiên cứu của Lê văn Ngọc (2015), sức lực bên trong mỗi cơ thể con người là nhân lực, hướng con người hoạt động, sự phát triển tiếp theo để con người tham gia vào quá trình lao động khi đó được gọi là sức lao động cuả con người, và đó chính là quan niệm về nhân lực [13, tr 34]. Nói cụ thể, Nhân lực gồm các cá nhân có có kiến thức về chuyên môn, có đạo đức trong ứng xử, .góp phần vào sự hình thành, phát triển của đơn vị.
Nhân lực là 1 trong các yếu tố tạo nên sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, doanh nghiệp, có vai trò to lớn là trụ cột để duy trì và tồn tại phát triển 1 đơn vị hay tổ chức. Khái niệm nguồn nhân lực Nghiên cứu Nguyễn Tiệp (2010), NNL gồm các cá thể có năng lực lao động, góp phần quan trọng tạo nên tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội [18, 5 tr 45]. Với cái nhìn khá chi tiết và thích ứng trong điều kiện gần đây; tác giả Nguyễn Sinh Cúc (2014), cho rằng: (1)Trong phạm vi khía cạnh hiểu lĩnh vực kinh tế, NNL là lực lượng dân số trong khoảng tuổi quy định tham gia vào lao động. Biểu hiện về số lượng và chất lượng, số lượng là gồm cá thể trong độ tuổi lao động, chất lượng gồm các khía cạnh sức khỏe, chuyên môn, kỹ năng hành nghề.
Với vai trò quan trọng của NNL, NNL được xem là hệ thống phát triển trung tâm, trọng yếu trong hệ thống các nguồn lực. Vì vậy, để 1 đất nước có được sự phát triển cần quan tâm hơn nữa đến con người, tạo nền tảng bền vững phát triển trong chiến lược dài lâu. Con người được coi trọng, được đào tạo, được phát triển để trở thành trụ cột trong các yếu tố tạo nên tăng trưởng kinh tế hiện nay. Song song với NNL, xuất hiện NNL chất lượng cao, cần thấy rõ trách nhiệm của NNL.
Với 1 con người có năng lực nghề nhất định về trình độ lành nghề của nó thì có thể coi là NNL chất lượng cao. Ở mỗi quốc gia, mối vùng miền đều xây dựng 1 NNL chất lượng cao phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phạm vi của vùng. Gần đây có nghiên cứu của tác giả Phetkham Saybounheuang (2019), cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ thể lực, trí lực cũng như tâm lực nằm bên trong lực lượng lao động một tổ chức, trong đó thể hiện kinh nghiệm lao động của tổ chức, giúp mỗi con người phát huy được năng lực làm việc, lao động và cống hiến [14, tr 21]. Với các cách phân tích trên, tác giả nhận định chung theo quan điểm 6 của Võ Xuân Tiến (2010) và Phetkham Saybounheuang (2019), NNL: Thê hiện trong năng lực lao động như tâm lực, thể lực và trí lực, hướng đến thực hiện các yêu cầu của 1 tổ chức, giúp mỗi con người phát huy hết năng lực làm việc (sự cống hiến, niềm đam mê, và hiệu quả công việc.) với tổ chức đó.
Chất lượng nguồn nhân lực và á tiêu hí đánh iá 1.Chất lượng nguồn nhân lực Với bối cảnh nền kinh tế thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp đã và đang diễn ra mạnh mẽ, NNL được coi trọng hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, tính đa chiều khi nghiên cứu về chất lượng NNL được quan tâm khá nhiều. Chất lượng NNL được đánh giá là khá quan trọng trong chiến lược quốc gia ở tầm vi mô và trong cá thể các đơn vị ở tầm vi mô. Với Mai Quốc Chanh &Cs (2013): Nếu con người lao động mà đáp ứng được năng lực làm việc với thực tế công việc của tổ chức, tạo nên hiệu quả mục tiêu và thỏa mãn được nhu cầu của lao động, thì đó được coi là chất lượng NNL.
Hoặc là trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của NNL. Chất lượng NNL với mục tiêu biểu hiện trên đẳng thức: Năng lực = sức lực + trí lực + tâm lực, là khả năng con người thực hiện, hoàn thành công việc đạt được mục đích lao động. Khả năng lao động còn được gọi là năng lực. Nguyễn Thúy Hải (2019).
Đây có thể xem là khái niệm có tính khái quát cao, phản ánh được đầy đủ chi tiết rõ nét về các thành tố tạo nên chất lượng NNL. Với các biểu hiện cụ thể [21]: Thể lực (sức lực): Được miêu tả bằng các tiêu chí như mức độ tăng trưởng và phát triển sinh học, có khả năng lao động với 1 ngành cụ thể, sức khỏe đảm bảo trong quá trình làm việc và nếu tiếp tục học nâng cao năng lực bản thân, các tiêu chí đó biểu hiện lên mức độ sức khỏe của con người. Trí lực: Trí lực có vai trò to lớn, trọng tâm trong phát triển NNL, nhất là trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 (cộng nghệ số), Nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người. Với các nội dung biểu hiện như tay nghề, trí tuệ, tinh thần, năng lực lành nghề của mức độ nghề.
7 Tâm lực: Phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội. con người có đạo đức kết hợp với chuyên môn tốt mới tạo nên hiệu quả, giá trị nhân cách con người biểu hiện ở thái độ, ý thức trong lao động, trong các hành vi khác. Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Nhóm tiêu chí đánh giá về thể lực Sức khỏe của nguồn nhân lực là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người. Để phản ánh điều đó có nhiều chỉ tiêu biểu hiên như: Tiêu chuẩn đo lường về chiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tâm thần, tai, mũi, họng…Bên cạnh đó việc đánh giá trạng thái sức khỏe còn thể hiện thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ sinh, chết, biến động tự nhiên, tuổi thọ trung bình, cơ cấu giới tính… Sức khỏe biểu hiện nên trạng thái tinh thân bên ngoài và làm việc của lao động, các biểu hiện của sức khỏe như: cơ cấu giới, mức độ thọ, tuổi.
bên cạnh đó còn có các thang đo sức khỏe như: mức độ cao, cân nặng, các loại bệnh tật trong cơ thể. Riêng đối với CHDCND Lào, Các tiêu chí này được quy định theo sở theo quy định của Bộ Y tế CHDCND Lào theo mức hàng năm: sức khỏe, thể lực tốt (loại A), thể lực ở mức bình thường (loại B), xếp loại sức khỏe không tốt (loại C). Về trí lực với các tiêu chí Được nhìn nhận qua 2 tiêu chí: trình độ văn hoá của NNL và Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL [2, tr 45]. Một là; trình độ văn hoá của NNL; mức độ hiểu biết lao động với các kiến thức đơn giản, liên quan đến đời sống xung quanh.
Trình độ văn hóa biểu hiện ở sô lượng người đi học văn hóa các cấp phổ thông, ở Việt Nam biểu hiện cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Cũng có thể hiểu trình độ văn hóa thể hiện mặt bằng dân trí cuả các quốc gia. Chính vì vậy, các quốc gia đều hướng đến phổ cập các cấp, tạo nên mặt bằng dân chí cao, 8 hướng đến đất nước phát triển, tạo tiền đề để xây dựng phát triển bền vững toàn diện trên các mặt. Hai là; trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL; với biểu hiện về năng lực thực hành chuyên môn 1 loại nghề nào đó, các năng lực này có được do quá trình tự học, tự nghiên cứu hoặc được đào tạo tại các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, với mức nhận định về số lượng được đào tạo và chưa đào tạo, đào tạo ở các mức độ, thời gian, ngành nghề khác nhau.
Về nghiệp vụ, chuyên môn: là cách thức, khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ vào công việc sao cho hiệu quả và nhất quán. Trình độ nghiệp vụ, chuyên môn được đào tạo để người lao động thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do đơn vị phân công. Sau khi học và được cấp văn bằng khác nhau trong hệ thống ngành nghề như sau đại học, đại học và hệ thống trung cấp, sơ cấp, cao đẳng, đào tạo ngắn hạn hay dài hạn. Về ngành đào tạo trong hệ thống: Các kiến thức, kỹ năng được đào tạo sâu, bài bản cho 1 ngành, đáp ứng được công việc khác nhau ở 1 hoạt động nghề nghiệp sau đào tạo.
Điều này là căn cứ để quan tam sau khi phân cấp công việc cho phù hợp ngành đào tạo. Chuyên ngành đào tạo đúng với công việc được giao sẽ nâng cao được khả năng, hiệu quả thích ứng. Xem xét được sự phù hợp và định hướng được công việc tốt hơn. Về trình độ lý luận chính trị: thể hiện kiến thức của CBCC về lý luận chính trị, về chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước.
Về tin học, ngoại ngữ: Trong bối cảnh hội nhập với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, năng lực hiểu biết về nó là mấu chốt ảnh hưởng không nhỏ đến công việc và cần nâng cao. Cần nâng cao các kỹ năng và vận dụng như thế nào trong công việc chuyên môn, nhất là đố với NNL làm việc tại Cục Hàng không thì ngoại ngữ tin học lại càng được coi trọng.