phần mở đầu; kết luận, kiến nghị, phụ lục; nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương: 5 Chƣơng 1: cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của Công ty Cổ phần Môi trường Nghi Sơn. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Công ty Cổ phần Môi trường Nghi Sơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực là một khái niệm được nhiều nghiên cứu tiếp cận. Theo Nguyễn Tiệp (2011):“Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [10; tr 38]. Khái niệm này cho thấy được những người có khả năng lao động thì đều là nguồn nhân lực của quốc gia.
Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng, chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [2; tr. Đặc trưng của nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là những cư dân trong độ tuổi lao động, có đủ năng lực để sử dụng vào lao động, dù hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề nào. Nguồn nhân lực là nguồn lao động trong độ tuổi lao động, là những người có khả năng lao động (từ 15 tuổi trở lên).
Nguồn nhân lực rất nhạy cảm với mọi diễn biến kinh tế, xã hội chính vì vậy việc quản lý và sử dụng sẽ có những khó khăn, phức tạp hơn so với việc quản lý và sử dụng các nguồn lực khác. Nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực, nhân cách đáp ứng yêu cầu phát triển của một địa phương, một quốc gia. Bao gồm các yếu tố về tinh thần, trí tuệ và thể chất của mỗi cá nhân để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một cộng đồng, một tổ chức, một quốc gia. 7 Với những đặc trưng trên, khái niệm nguồn nhân lực trong luận văn này được tiếp cận như sau:Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Nguồn nhân lực trong DN là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Đây là một trong những nguồn lực của doanh nghiệp, điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển đó là khai thác, sử dụng một cách khoa học, hợp lý.Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Theo Nguyễn Tiệp (2011) thì “chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư [10].” Theo Nguyễn Tiệp (2011): “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [10]. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [2]. Theo Phùng Rân (2008) thì chất lượng nguồn nhân lực được đo bằng 2 tiêu chí: “là năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức 8 của nguồn nhân lực đó [12]”.
Năng lực hoạt động của người lao động thường có được thông qua đào tạo, huấn luyện và kinh nghiệm làm việc; và thông thường được đánh giá bằng trình độ học vấn (học hàm, học vị) hay cấp bậc công nhân và kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức là khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thức đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của NNL. Chất lượng nguồn nhân lực được đưa ra với nhiều khái niệm khác nhau, trong luận văn này, tác giả tiếp cận chất lượng nguồn nhân lực với khái niệm như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện thông qua ba mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực. Tất cả các mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành nên chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó cả 3 yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực đều là yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực” [11] 1. Mục tiêu quản lý chất lượng nguồn nhân lực Quản lý chất lượng nguồn nhân lực nhằm đạt được mục tiêu kinh tế, mục tiêu phát triển tổ chức và mục tiêu xã hội. Mục tiêu kinh tế là sử dụng nguồn lao động một cách hiệu quả nhất và năng suất lao động là cao nhất. Từ đó, tạo tích lũy cho doanh nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế, ổn định và trang trải các nhu cầu và chi tiêu cho gia đình.
Tạo điều kiện để tích lũy cho Nhà nước phát triển kinh tế, tăng thu nhập dân cư. Mục tiêu phát triển tổ chức: thông qua việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, các nhà quản trị doanh nghiệp khai thác hiệu quả nguồn lực, thực hiện được mục đích kinh doanh có hiệu quả của doanh nghiệp, từ đó củng cố và phát triển tổ chức. Mục tiêu xã hội: không chỉ đáp ứng về mục tiêu kinh tế và mục tiêu phát triển tổ chức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn động viên người lao động, tạo công ăn việc làm, giúp cho người lao động đảm bảo cuộc sống, phù hợp với tiến bộ xã hội. 9 Nhân tố con người có thể được coi là điểm mạnh hoặc điểm yếu của các doanh nghiệp.
Do vậy, người lao động cần phải được trang bị kỹ năng cứng (kiến thức chuyên môn) và các kỹ năng mềm (kỹ năng thực hành) để đảm bảo về chất lượng nguồn nhân lực. Các yếu tố cấu thành chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Chất lượng nguồn nhân lực thông qua thể lực Thể lực của NNL được thể hiện qua trạng thái sức khỏe của NLĐ. Sức khỏe của người lao động là sự phản ánh bởi giữa thể chất và tinh thần.
Nguồn nhân lực có chất lượng là đảm bảo tình trạng khỏe mạnh, thoải mái về tinh thần và thể chất chứ không chỉ đơn giản là không có bệnh tật. Một người khỏe mạnh là luôn trong trạng thái tinh thần minh mẫn, có thể kiểm soát được những hành vi của bản thân, không có các biểu hiện “bệnh tật” như căng thẳng, buồn phiền, lo âu,. Hiện nay thể lực của con người được đánh gia thông qua chiều cao và cân nặng. Tiêu chuẩn về chiều cao cân nặng được khác biệt giữa nam và nữ, giữa các ngành nghề khác nhau.
Thể trạng sức khỏe được chia thành 6 mức là rất khỏe, khỏe, trung bình, yếu, rất yếu, kém. Chất lượng thể hiện thông qua độ tuổi và giới tính. Người lao động đảm bảo được chất lượng nguồn nhân lực là những người phải có sức khỏe từ trung bình trở lên thì mới đảm bảo sức khỏe cho việc bố trí nhân lực. Việc phân loại được sức khỏe đối với cả nam và nữ và từng tình trạng thể lực sẽ giúp cho doanh nghiệp bố trí nguồn nhân lực phù hợp với từng ngành nghề, từng đặc điểm công việc.
Để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực về thể lực, dựa theo tiêu chuẩn phân loại sức khỏe tại TT 36/TTLT-BYT-BQP ngày 17/10/2011 của BYT- BQP, xác định tỷ lệ nguồn nhân lực có chiều cao hoặc cân nặng đảm bảo là bao nhiêu; tỷ lệ nguồn nhân lực có sức khỏe là bao nhiêu. Các tỷ lệ này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng lao động đảm bảo được về sức khỏe. Phân loại sức khỏe theo thể lực Nam Nữ Loại sức khỏe Chiều cao Cân nặng Chiều cao Cân nặng (cm) (kg) (cm) (kg) 1. Kém ≤ 152 ≤ 39 ≤ 146 ≤ 37 Nguồn: TT 36/TTLT-BYT-BQP ngày 17/10/2011 của BYT-BQP [1] Ngoài ra, có những biểu hiện về trạng thái sức khỏe được Bộ y tế quy định đó là: Thể lực tốt, loại không có bệnh tật gì.
Thể lực trung bình, có bệnh, vẫn có khả năng lao động. Thể lực yếu, không có khả năng lao động. Ở nước ta, BộY tế kết hợp với Bộ Quốc phòng căn cứ vào 8 chỉ tiêu để đánh giá: Thể lực chung: Chiều cao, cân nặng, vòng ngực. Răng, hàm, mặt.
Thần kinh tâm thần. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng NNL về thể lực: 11 1. Chất lượng nguồn nhân lực thông qua trí lực Nếu như thể lực phản ánh sức khỏe, tinh thần của người lao động thì trí lực phản ánh trình độ chuyên môn, khả năng tư duy trong công việc của người lao động. Trí lực của người lao động và việc mà mỗi cá nhân thể hiện năng lực của mình qua các cách khác nhau, nó được hình thành và phát triển trong quá trình làm việc và qua quá trình đào tạo, giáo dục.
Là sự hiểu biết về những kiến thức phổ thông cũng như khả năng tiếp thu, vận dụng những tiến bộ trong công việc, khoa học công nghệ và trong cuộc sống. Trình độ văn hóa thể hiện trình độ dân trí của quốc gia nói chung và quá trình phát triển kinh tế xã hội, kinh tế doanh nghiệp. Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Trí lực được phản ánh thông qua kiến thức về văn hóa, về chuyên môn, trình độ về tin học, ngoại ngữ, kinh nghiệm làm việc.
Trình độ văn hóa phản ánh những hiểu quá cơ bản nhất trong cuộc sống.