Luận văn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên

Tìm hiểu các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên nhằm tối ưu hiệu quả công tác quản lý thuế.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng nguồn nhân lực Chi cục Thuế TP Thái Nguyên

Chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả hoạt động của ngành thuế địa phương. Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên thực hiện nhiệm vụ quản lý nguồn thu trên địa bàn đô thị phát triển sôi động. Nguồn nhân lực chất lượng cao bảo đảm thực thi đúng chính sách pháp luật về thuế. Đội ngũ cán bộ có trình độ giúp hạn chế tối đa sai sót nghiệp vụ. Năng lực công chức phản ánh trực tiếp qua trình độ chuyên môn, kỹ năng tin học và văn hóa ứng xử công vụ. Quá trình nâng cao chất lượng nhân lực gắn liền với mục tiêu cải cách thủ tục hành chính. Hệ thống thuế chuyển dần sang mô hình quản lý hiện đại dựa trên công nghệ thông tin. Cán bộ thuế cần trang bị kiến thức phân tích dữ liệu, xử lý hồ sơ điện tử và giám sát tuân thủ thuế. Sự phối hợp đồng bộ giữa tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ tạo động lực làm việc mạnh mẽ. Đây là cơ sở cốt lõi nhằm xây dựng cơ quan thuế chuyên nghiệp, minh bạch và liêm chính. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế khu vực.

1.1. Khái niệm và vai trò của chất lượng nhân lực thuế

Chất lượng nhân lực thuế thể hiện qua thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ công chức. Trí lực bao gồm trình độ học vấn, kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu và năng lực áp dụng luật thuế. Phẩm chất đạo đức bảo đảm tính khách quan, trung thực và trách nhiệm trong quá trình thực thi công vụ. Nguồn nhân lực chất lượng cao giúp tối ưu hóa thời gian xử lý thủ tục hành chính. Cán bộ thuế giỏi hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nhanh chóng, thuận tiện. Điều này củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước. Nhân lực vững mạnh còn ngăn chặn các hành vi trục lợi, gian lận và thất thu ngân sách trên địa bàn thành phố.

1.2. Tiêu chí đánh giá cán bộ công chức thuế hiện đại

Tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực thuế căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cơ quan thuế áp dụng các chỉ số đo lường hiệu suất công việc cụ thể cho từng vị trí. Khả năng làm chủ các phần mềm quản lý thuế điện tử là tiêu chí bắt buộc. Tinh thần hợp tác nội bộ và thái độ phục vụ nhân dân phản ánh đạo đức nghề nghiệp. Trình độ ngoại ngữ và khả năng thích ứng với chuyển đổi số nâng cao tính cạnh tranh của tổ chức. Cán bộ đạt chuẩn phải thường xuyên cập nhật kiến thức luật quản lý thuế mới. Đánh giá định kỳ giúp phân loại chính xác năng lực, từ đó bố trí nhân sự phù hợp với từng khâu nghiệp vụ.

II. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Chi cục Thuế TP Thái Nguyên

Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên sở hữu đội ngũ công chức có cơ cấu độ tuổi đa dạng và tinh thần trách nhiệm cao. Phần lớn cán bộ đạt trình độ đại học và sau đại học chuyên ngành tài chính, kế toán hoặc luật. Sự am hiểu quy trình thu ngân sách giúp đơn vị duy trì tiến độ công việc ổn định. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế số đặt ra nhiều thách thức mới về năng lực vận hành. Một bộ phận cán bộ lớn tuổi gặp khó khăn khi thao tác trên các nền tảng phân tích hóa đơn điện tử. Kỹ năng thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp có mô hình kinh doanh trực tuyến chưa thực sự đồng đều. Áp lực công việc lớn tại địa bàn trọng điểm dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ ở một số bộ phận. Công tác tự học tập và bồi dưỡng chuyên sâu đôi khi chưa nhận được sự đầu tư thỏa đáng. Việc bố trí lao động tại vài khâu nghiệp vụ còn mang tính kinh nghiệm, thiếu sự linh hoạt theo năng lực chuyên biệt. Những tồn tại này đòi hỏi giải pháp khắc phục triệt để và đồng bộ.

2.1. Đánh giá trình độ chuyên môn và cơ cấu nhân lực

Cơ cấu nhân sự tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên có tỷ lệ công chức trẻ ngày càng gia tăng. Lực lượng này nắm bắt nhanh công nghệ thông tin và quy trình nghiệp vụ mới. Đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm đóng vai trò hạt nhân trong việc hướng dẫn thực tế. Tuy nhiên, tỷ lệ phân bổ nhân lực giữa các bộ phận quản lý nợ, kiểm tra thuế và tuyên truyền hỗ trợ đôi lúc chưa tối ưu. Kiến thức quản lý thuế quốc tế và thương mại điện tử vẫn là điểm hạn chế chung. Sự chênh lệch năng lực giữa các thế hệ công chức tạo rào cản trong việc chuẩn hóa chất lượng công việc toàn diện.

2.2. Những hạn chế trong kỹ năng quản lý thuế số

Ngành thuế đang đẩy mạnh triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý hóa đơn. Một số cán bộ Chi cục chưa thuần thục thao tác đối chiếu dữ liệu rủi ro trên hệ thống tự động. Kỹ năng phát hiện dấu hiệu trốn thuế qua giao dịch điện tử còn hạn chế. Các khóa đào tạo tin học ứng dụng ngắn hạn chưa đủ đáp ứng nhu cầu thực tế. Khả năng khai thác chuyên sâu hệ thống quản trị rủi ro cần nhiều thời gian thực hành. Việc chậm thích ứng với công nghệ làm giảm tốc độ xử lý các hồ sơ thuế phức tạp của doanh nghiệp địa phương.

III. Giải pháp nâng cao nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế TP Thái Nguyên

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên, cơ quan cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trọng tâm hàng đầu là đổi mới căn bản chương trình đào tạo nghiệp vụ theo hướng gắn liền thực tiễn. Nội dung bồi dưỡng phải cập nhật liên tục các văn bản pháp luật thuế mới ban hành. Đơn vị cần ứng dụng phương pháp đào tạo hiện đại, chú trọng kỹ năng kiểm tra thuế trên môi trường số. Công tác quy hoạch cán bộ phải dựa trên năng lực thực chất và thành tích công tác. Việc xây dựng môi trường làm việc dân chủ, văn minh giúp công chức an tâm cống hiến lâu dài. Cơ quan thuế cần cải thiện chính sách khen thưởng nhằm kích thích tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm. Việc số hóa toàn diện quy trình làm việc giảm tải áp lực hành chính thủ công cho cán bộ. Cơ chế đánh giá công chức phải minh bạch, kết hợp hài hòa giữa giám sát nội bộ và phản hồi từ người nộp thuế. Sự chuyển biến đồng bộ này bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

3.1. Đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ

Chi cục cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ sát với nhu cầu của từng bộ phận chức năng. Phương thức đào tạo chuyển dịch từ lý thuyết sang thảo luận tình huống thực tế và xử lý án điểm. Đơn vị nên tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng kiểm tra thuế thương mại điện tử chuyên sâu. Việc mời các chuyên gia thuế đầu ngành về trao đổi kinh nghiệm mang lại hiệu quả thiết thực. Công chức được khuyến khích tự nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học chuyên ngành. Cơ quan tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các kỳ sát hạch chuyên môn để chuẩn hóa kiến thức định kỳ.

3.2. Hoàn thiện chính sách bố trí và đánh giá cán bộ

Bố trí công việc hợp lý là chìa khóa phát huy tối đa năng lực và sở trường của từng công chức. Cơ quan cần rà soát vị trí việc làm để sắp xếp đúng người, đúng chuyên môn đào tạo. Việc luân chuyển cán bộ nội bộ giúp hạn chế tiêu cực và mở rộng kiến thức thực tế cho công chức. Quy trình đánh giá hiệu suất phải gắn với kết quả thu nợ và tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn. Khen thưởng kịp thời các sáng kiến quản lý thuế hiệu quả tạo động lực phấn đấu mạnh mẽ. Môi trường công vụ công bằng thúc đẩy sự gắn kết và cống hiến bền bỉ của người lao động.

IV. Đánh giá và định hướng nhân lực Chi cục Thuế TP Thái Nguyên

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và mang ý nghĩa sống còn đối với Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên. Chất lượng đội ngũ cán bộ quyết định trực tiếp khả năng hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước hàng năm. Năng lực chuyên môn vững vàng giúp cơ quan thực hiện tốt vai trò đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Việc chuẩn hóa đội ngũ tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số toàn diện ngành thuế. Công chức liêm chính, tinh thông nghiệp vụ góp phần xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch và lành mạnh tại địa phương. Sự đổi mới trong quản trị nhân sự mang lại hiệu quả rõ nét về năng suất lao động và mức độ hài lòng của xã hội. Trong giai đoạn tới, đơn vị tiếp tục ưu tiên phát triển nhân lực chất lượng cao thích ứng với kỷ nguyên kinh tế số. Kế hoạch hành động cụ thể sẽ biến mục tiêu xây dựng cơ quan thuế văn minh, hiện đại thành hiện thực vững chắc.

4.1. Hiệu quả ứng dụng vào công tác thu ngân sách

Đội ngũ nhân sự tinh thông nghiệp vụ giúp đẩy nhanh tiến độ thu đúng, thu đủ và kịp thời các nguồn thu vào ngân sách. Cán bộ có năng lực cao giải quyết hồ sơ hoàn thuế, miễn giảm thuế chính xác, đúng quy định pháp luật. Tình trạng nợ đọng thuế được kiểm soát chặt chẽ thông qua các biện pháp cưỡng chế và vận động linh hoạt. Hiệu quả quản trị rủi ro thuế tăng lên rõ rệt, giảm thiểu số cuộc thanh tra chồng chéo phiền hà. Doanh nghiệp an tâm mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu dồi dào và bền vững cho thành phố Thái Nguyên.

4.2. Định hướng phát triển nguồn nhân lực thuế bền vững

Định hướng phát triển nhân lực giai đoạn tới tập trung vào xây dựng đội ngũ cán bộ thuế số hóa toàn diện. Cơ quan ưu tiên tuyển dụng nhân sự có chuyên môn kép về kinh tế tài chính và công nghệ thông tin. Việc xây dựng văn hóa công sở liêm chính, tận tụy và kỷ cương được duy trì xuyên suốt. Chi cục chú trọng phát triển nguồn cán bộ trẻ có tư duy đổi mới sáng tạo để kế cận lãnh đạo. Các chương trình hợp tác chia sẻ kinh nghiệm với các chi cục thuế phát triển khác được tăng cường. Đây là bước đi chiến lược bảo đảm sự phát triển vững mạnh của cơ quan thuế địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

08/10/2026
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chi cục thuế thành phố thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm a, Khái niệm nguồn nhân lực Thuật ngữ “nguồn nhân lực” đã xuất hiện từ thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.

Nếu như trước đó nhân viên được coi là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay, quản lý NNL với phương thức mới mang tính mềm dẻo, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về NNL, cụ thể như: Theo Liên Hợp Quốc (2000): “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Theo quan điểm của Lê Hữu Tầng (2005) thì “nguồn nhân lực” được hiểu là: “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc”. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”.

NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. 6 Theo Phạm Minh Hạc (2001): “NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”. Nhận thấy, các quan điểm trên tiếp cận NNL ở góc độ vĩ mô, còn ở góc độ tổ chức thì lại có những quan điểm về NNL như: “NNL của tổ chức là nguồn lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức.

Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên” (Phạm Minh Hạc, 2001). Theo Bùi Văn Nhơn (2006) thì: “Nguồn nhân lực tổ chức là lực lượng lao động của từng tổ chức, là số người có trong danh sách của tổ chức, do tổ chức trả lương”. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, những khái niệm trên đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.

Trong mỗi tổ chức, NNL là nguồn lực quan trọng, không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của tổ chức. Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dưỡng NNL của mình để đảm bảo NNL đủ mạnh cả về chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của tổ chức không chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai. Từ các quan niệm trên, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.

7 Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực và tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Các nghiên cứu về nguồn nhân lực có những đặc điểm chung, nói đến nguồn nhân lực là đề cập đến các khía cạnh: Về số lượng nhân lực: Khi nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, địa phương, hay quốc gia nào điều quan trọng là việc xác định số lượng nhân lực hiện tại và dự đoán sự gia tăng trong tương lai, nói cách khác đây là việc xác định quy mô nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; Về chất lượng nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm dùng để chỉ con người khi tham gia vào các hình thức sản xuất nào đó trong xã hội. Người lao động có thể qua đào tạo và không qua đào tạo hoặc chưa qua đào tạo; có thể là những lao động giản đơn hoặc lao động phức tạp.

Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. Nhân lực gồm nhiều yếu tố bộ phận như: Trình độ, nhận thức, tri thức, trí tuệ, hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ,. Trong đó các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Về cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện về: Độ tuổi, giới tính,.

Cơ cấu nhân lực của một đất nước được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỉ lệ nhân lực nhất định. Từ những quan niệm trên, tác giả luận văn đưa ra quan điểm về nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực là tổng thể về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động với tổng hòa các tiêu chí về thể lực, trí lực, tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. 8 b, Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Theo Nguyễn Thanh Mai (2014), chất lượng NNL trong tổ chức là: “Mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động”. Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2006): “Chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ”.

Theo quan điểm này thì chất lượng NNL được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực). Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. Mai Quốc Chánh (2000) cho rằng “Chất lượng NNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất”. Như vậy, có thể thấy “chất lượng NNL” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá NNL.

Chất lượng NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL, bao gồm: - Trí lực: Là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động.

Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho NNL hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Kỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển NNL ở xã hội công nghiệp. - Thể lực: Là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động.

Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL, song, sức mạnh trí tuệ của 9 con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng NNL, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người. - Tâm lực: Còn gọi là phẩm chất tâm lý - xã hội, chính là tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ.), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Hoàng Thị Thu Hiền (2024), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Hoàng, T. T. H. (2024). Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-tai-chi-cuc-thue-thanh-pho-thai-nguyen/9535673743
IEEE
T. T. H. Hoàng, "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-tai-chi-cuc-thue-thanh-pho-thai-nguyen/9535673743

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác