Luận văn quản lý thu thuế GTGT doanh nghiệp nhỏ và vừa tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại huyện Bình Liêu

Thuế giá trị gia tăng giữ vai trò huyết mạch trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước. Tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp tỷ trọng lớn vào nguồn thu địa phương. Địa bàn miền núi có đặc thù địa lý phân tán và điều kiện kinh tế khó khăn. Doanh nghiệp nơi đây phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, thương mại cửa khẩu và dịch vụ du lịch. Công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. Cơ quan thuế thực hiện quản lý từ khâu tuyên truyền chính sách đến hướng dẫn kê khai. Quy trình thu nộp được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch và đúng quy định pháp luật. Việc quản lý hiệu quả nguồn thu này vừa tạo nguồn lực phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, vừa tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế trên địa bàn huyện.

1.1. Khái niệm và bản chất của thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng là sắc thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Người tiêu dùng cuối cùng là người chịu thuế thực tế. Doanh nghiệp đóng vai trò người nộp thuế thay mặt vào ngân sách nhà nước. Sắc thuế này có phạm vi điều chỉnh rộng và tính trung lập kinh tế cao. Cơ chế khấu trừ và hoàn thuế tạo động lực rõ rệt cho các đơn vị kinh doanh hoàn thiện sổ sách kế toán. Việc áp dụng đúng quy định thuế giá trị gia tăng giúp loại trừ hiện tượng trùng lắp chi phí. Nguồn thu này bảo đảm tính ổn định lâu dài cho nguồn ngân sách.

1.2. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại huyện Bình Liêu

Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại huyện Bình Liêu có quy mô vốn hạn chế và số lượng lao động ít. Phần lớn các cơ sở kinh doanh phân bố rải rác tại các xã vùng sâu, vùng xa. Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và quản trị tài chính của chủ doanh nghiệp chưa đồng đều. Đội ngũ kế toán thường xuyên biến động hoặc phải thuê dịch vụ bán thời gian. Năng lực tiếp cận các chính sách hỗ trợ và pháp luật thuế mới còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đóng vai trò nòng cốt trong giải quyết việc làm cho đồng bào thiểu số và tiêu thụ nông sản bản địa trên địa bàn.

II. Thực trạng và khó khăn trong quản lý thu thuế tại Bình Liêu

Công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế khu vực Tiên Yên - Bình Liêu - Ba Chẽ đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ nộp tờ khai đúng hạn duy trì ở mức ổn định qua các năm. Số thu ngân sách từ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa có bước tăng trưởng đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Trình độ nghiệp vụ kế toán yếu kém của người nộp thuế dẫn đến nhiều sai sót trong kê khai hóa đơn điện tử. Hiện tượng nợ đọng thuế dây dưa kéo dài vẫn phát sinh ở một số đơn vị xây dựng cơ bản và thương mại. Địa hình đồi núi hiểm trở gây cản trở lớn cho công tác kiểm tra thực địa của cán bộ thuế. Ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của một bộ phận chủ doanh nghiệp chưa cao. Công tác phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan ban ngành địa phương đôi khi còn thiếu tính đồng bộ và kịp thời.

2.1. Hạn chế trong công tác kê khai và nộp thuế GTGT

Nhiều doanh nghiệp nhỏ trên địa bàn huyện Bình Liêu chưa cập nhật kịp thời các thay đổi về biểu mẫu kê khai. Tình trạng nộp chậm tờ khai thuế và báo cáo tài chính vẫn thường xuyên diễn ra. Kế toán doanh nghiệp hay gặp sai sót trong việc phân loại hóa đơn đầu vào đủ điều kiện khấu trừ. Việc điều chỉnh tờ khai bổ sung sau khi phát hiện sai sót mất nhiều thời gian xử lý. Một số đơn vị phát sinh doanh thu nhưng chậm xuất hóa đơn theo thời điểm quy định. Tình trạng này làm sai lệch số liệu doanh thu thực tế và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thu ngân sách.

2.2. Khó khăn trong kiểm tra và thu hồi nợ đọng thuế

Hoạt động thanh tra và kiểm tra thuế gặp nhiều trở ngại do lực lượng cán bộ thuế còn mỏng so với địa bàn rộng. Cơ quan thuế gặp khó khăn trong việc xác minh nguồn gốc hàng hóa qua lại khu vực biên giới. Biện pháp cưỡng chế tài khoản ngân hàng đối với các doanh nghiệp chây ỳ nợ thuế chưa mang lại hiệu quả cao do số dư tài khoản thấp. Doanh nghiệp xây lắp thường phụ thuộc vào tiến độ giải ngân vốn đầu tư công dẫn đến tình trạng nợ thuế thụ động kéo dài. Việc xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng khó thu hồi cần nhiều thời gian và thủ tục phức tạp.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế tại huyện Bình Liêu

Nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế giá trị gia tăng đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi. Chi cục thuế cần đẩy mạnh hiện đại hóa quy trình nghiệp vụ thông qua chuyển đổi số toàn diện. Công tác tuyên truyền chính sách thuế phải đổi mới theo hướng trực quan và dễ tiếp cận đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ quan quản lý cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền. Việc áp dụng quản lý rủi ro trong phân loại hồ sơ hoàn thuế và kiểm tra thuế là yêu cầu cấp thiết. Cán bộ thuế phải chủ động theo dõi sát sao dòng tiền và chu kỳ kinh doanh của từng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần tăng cường cơ chế liên ngành để chia sẻ dữ liệu kinh doanh. Sự kết hợp chặt chẽ giữa hỗ trợ và giám sát sẽ nâng cao tính tự giác tuân thủ của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

3.1. Đẩy mạnh chuyển đổi số và hỗ trợ người nộp thuế

Cơ quan thuế cần phát triển các kênh hỗ trợ trực tuyến như nhóm tư vấn điện tử và ứng dụng di động eTax Mobile. Việc hỗ trợ cài đặt và sử dụng phần mềm kế toán chuẩn hóa giúp doanh nghiệp giảm thiểu sai sót kỹ thuật. Cán bộ thuế phải kịp thời giải đáp vướng mắc về chính sách thuế mới phát sinh trong quá trình hoạt động. Cơ quan chức năng cần phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông để bảo đảm hạ tầng truyền dẫn ổn định tại các xã vùng cao. Nỗ lực chuyển đổi số tạo điều kiện thuận lợi nhất để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ mọi lúc, mọi nơi.

3.2. Tăng cường kiểm tra dựa trên phân tích rủi ro thuế

Chi cục thuế cần ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn để nhận diện dấu hiệu bất thường trong việc sử dụng hóa đơn điện tử. Kế hoạch kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế phải xây dựng dựa trên tiêu chí rủi ro cụ thể và minh bạch. Cơ quan thuế tập trung rà soát các lĩnh vực có nguy cơ trốn thuế cao như khai thác khoáng sản, thương mại biên giới và dịch vụ ăn uống. Đội ngũ thanh tra cần kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi gian lận khấu trừ thuế đầu vào. Việc kiểm tra có trọng tâm giúp tiết kiệm nguồn lực của cơ quan thuế và không gây phiền hà cho doanh nghiệp.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng quản lý thuế trên địa bàn

Quản lý thu thuế giá trị gia tăng hiệu quả là chìa khóa then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại huyện Bình Liêu. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực bộ máy thuế cơ sở. Sự phát triển lành mạnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc lớn vào môi trường quản lý minh bạch và công bằng. Cơ quan thuế cần tiếp tục duy trì phương châm lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ. Các giải pháp đề xuất mang tính ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản trị nguồn thu tại các địa bàn miền núi, biên giới. Việc triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý rủi ro và số hóa quy trình sẽ tối ưu hóa số thu cho ngân sách nhà nước. Đội ngũ cán bộ thuế phải không ngừng nâng cao đạo đức công vụ và kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn. Thành công của công tác này góp phần quan trọng vào mục tiêu xây dựng huyện Bình Liêu ngày càng giàu mạnh và ổn định.

4.1. Bài học kinh nghiệm đối với công tác quản lý thuế

Bài học cốt lõi rút ra là phải kết hợp hài hòa giữa công tác tuyên truyền hỗ trợ và biện pháp cưỡng chế răn đe. Cơ quan thuế cần xây dựng mối quan hệ đối tác tin cậy với cộng đồng doanh nghiệp địa phương. Việc đào tạo nâng cao kỹ năng xử lý dữ liệu số cho đội ngũ công chức thuế là yếu tố quyết định thành công. Chính sách thuế cần được truyền tải một cách đơn giản, gần gũi với phong tục tập quán của đồng bào vùng biên. Sự phối hợp chặt chẽ với cấp ủy và chính quyền địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc chống thất thu ngân sách nhà nước.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tiễn tại các huyện miền núi

Mô hình quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại huyện Bình Liêu có thể áp dụng linh hoạt cho các huyện miền núi, biên giới có điều kiện kinh tế tương đồng. Phương thức phân loại rủi ro doanh nghiệp theo ngành nghề đặc thù giúp tối ưu hóa nguồn lực thanh tra còn hạn chế. Quy trình hỗ trợ người nộp thuế qua nền tảng số mang lại hiệu quả cao trong điều kiện địa hình chia cắt phức tạp. Sự đồng hành của cơ quan thuế tạo nền tảng vững chắc cho sự lớn mạnh của các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Các cơ quan thuế khu vực lân cận có thể tham khảo bài học này để hoàn thiện chính sách quản lý thu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

08/10/2026
Quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn huyện bình liêu tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về thuế GTGT 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT Theo Luật Thuế GTGT hiện hành: Thuế giá trị gia tăng là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, thuế GTGT đánh trên phần giá trị mới được tạo ra (giá trị gia tăng) trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Giá trị gia tăng được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra với tổng trị giá hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế: Có thể thấy thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điều này thể hiện qua các đặc điểm của thuế GTGT. - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu thể hiện: Thứ nhất đây là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ. Thứ hai: Người mua hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của hàng hoá, dịch vụ.

Tuy nhiên, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp đã được người mua trả vào NSNN. Người mua trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dịch vụ cho người bán, trong đó đã bao gồm cả khoản thuế GTGT. - Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó. Tổng số thuế 6 GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.

Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó.

Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. - Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá dịch vụ. Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.

- Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu. Các nội dung cơ bản của thuế GTGT ở Việt Nam * Đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế bao gồm: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh 7 hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng (Điều 4 – Luật thuế GTGT 2008). Qua quy định của Luật về đối tượng nộp thuế có thể thấy, Luật thuế GTGT là sắc thuế có phạm vi điều chỉnh rộng nhất trong tất cả các Luật thuế hiện hành của Nhà nước ta.

Thuế GTGT động viên sự đóng góp của tất cả mọi người dân thông qua hành vi tiêu dùng của họ. Với phạm vi điều chỉnh rộng như vậy, thuế GTGT hiện nay là một trong những sắc thuế quan trọng trong hệ thống thu thuế của Nhà nước ta và cũng như thuế doanh thu trước đây, thuế GTGT luôn có tỷ trọng cao trong cơ cấu thu của ngân sách Nhà nước. * Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế bao gồm hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 (những đối tượng không chịu thuế) của luật này (Điều 3 Luật thuế GTGT). Điều đó có nghĩa là đối tượng chịu thuế GTGT quy định đối tượng chịu thuế gồm toàn bộ hàng hóa, dịch vụ được mua bán, tiêu dùng trên thị trường: hàng hóa, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng trong nước.

Tuy nhiên, do tính chất của sản xuất và tiêu dùng ở nước ta hiện nay, mặt khác để nâng đỡ và khuyến khích phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, Luật thuế GTGT có quy định một số loại hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT gồm có 5 nhóm như sau: Nhóm 1: Các sản phẩm, dịch vụ của một số ngành, lĩnh vực mà hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành này còn gặp nhiều khó khăn, cần có sự nâng đỡ của Nhà nước để khuyến khích phát triển như: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản chưa qua chế biến… Nhóm 2: Nhóm các sản phẩm và dịch vụ không mang tính kinh doanh, hoặc các dịch vụ công cộng bảo đảm cung cấp các dịch vụ tối thiểu cho tiêu dùng như: bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi cây trồng không nhằm mục 8 đích kinh doanh, hoạt động triển lãm, phát sóng truyền thanh truyền hình, dạy học dạy nghề… Nhóm 3: Hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, quà tặng cho các cơ quan Nhà nước, hàng mang theo người theo tiêu chuẩn hành lý miễn thuế… Nhóm 4: Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam, hàng tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất gia công với nước ngoài, hàng xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản chưa chế biến thành phẩm. Nhóm 5: Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước. * Đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng Luật Thuế GTGT quy định các loại hàng hoá, dịch vụ sau không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng: - Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra. - Sản phẩm muối - Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

- Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được mà cơ sở có dự án đầu tư nhập khẩu để làm tài sản cố định theo dự án đó. - Chuyển quyền sử dụng đất thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất. - Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê. - Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư 9 - Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh.

- Dịch vụ y tế. - Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục thể thao không nhằm mục đích kinh doanh, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim, phát hành và chiếu phim nhựa, phim video tài liệu. - Dạy học, dạy nghề - Phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước - In, xuất bản và phát hành báo, tạp chí, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách in bằng tiếng dân tộc thiểu số, tranh ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, in tiền. - Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng, phục vụ tang lễ.

Nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện luật thuế GTGT: (Luật thuế GTGT số 13, 2008) 1. Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn theo quy định của luật này. Cơ quan thuế trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của luật này. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình giám sát, phối hợp với cơ quan thuế trong việc thi hành luật thuế GTGT.

Công dân Việt Nam có trách nhiệm giúp cơ quan thuế, cán bộ thuế trong việc thi hành luật này. * Căn cứ tính thuế - Giá tính thuế 10 Giá tính thuế được xác định tuỳ theo loại hàng hoá, dịch vụ và được xác định như sau: – Ðối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra hoặc cung ứng cho các đối tượng khác là giá chưa có thuế giá trị gia tăng. – Ðối với dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho các đối tượng tiêu dùng tại Việt Nam, giá chưa có thuế giá trị gia tăng được xác định theo hợp đồng; trường hợp hợp đồng không xác định cụ thể số thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế giá trị gia tăng là giá dịch vụ phải thanh toán trả cho phía nước ngoài. – Ðối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu, tặng là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Tâm (2024), Quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Hoàng, T. T. T. (2024). Quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/quan-ly-thu-thue-gia-tri-gia-tang-doi-voi-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-tren-dia-ban-huyen-binh-lieu-tinh-quang-ninh/9646384857
IEEE
T. T. T. Hoàng, "Quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/quan-ly-thu-thue-gia-tri-gia-tang-doi-voi-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-tren-dia-ban-huyen-binh-lieu-tinh-quang-ninh/9646384857

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác