Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lựctrong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Chương 3. Định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lựctrong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 5 PHẦN II.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm nguồn nhân lực Xét về khía cạnh xã hội thì NNL là số lao dộng đang tham gia làm việc trong các ngành nghề kinh tế, bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên. Xét ở khía cạnh tổ chức, có nhiều quan điểm khác nhau thể hiện qua quy mô, loại hình, chức năng hoạt động của các cơ sở, đơn vị hoạt động kinh doanh, sản xuất.
Mikhovich và Tohn W. World Bank (2000) cho rằng: "Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kĩ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân [37, Tr12]”. Nguồn nhân lực trở thành một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Sự khác biệt của vốn nhân lực nằm ở chức năng của nó là để khai thác, duy trì và sử dụng các nguồn vốn vật chất. Theo David Begg, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng thu được trong tương lai[34]. Theo Nguyễn Ngọc Quân: "Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong một tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gốm có cả thể lực và trí lực" [17, Tr87]. Đó là toàn bộ con người và các hành động của con người trong tổ chức đó 6 tạo thành các hoạt động - phần không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Theo quan điểm của Lê Hữu Tầng trong chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX - 07 thì “nguồn nhân lực” được hiểu là: “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc [19, Tr28]”. Cùng quan điểm đánh giá về tiềm năng và chất lượng của NNL, Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động bao gồm thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách con người nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế xã hội nhất định. Có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai” [9, Tr269]. Khái niệm này có những điểm chung với quan điểm của Lê Hữu Tầng, xem xét tiềm năng của lao động dựa trên các đặc điểm thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách con người.
Nghiên cứu của Bùi Văn Nhơn “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” (2006) thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương [15, Tr90]”. Xét ở khía cạnh xã hội, NNL đề cập đến độ tuổi và trạng thái có làm việc hay không, nhưng ở khía cạnh tổ chức thì đó là lao động đang làm việc trong một tổ chức. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, những khái niệm trên đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sứclaođộng cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệcon người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cảitạo xã hội.
7 Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung vào NNL trong doanh nghiệp, những người lao động đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lý, làm việc bằng thể lực, trí lực và tâm lực của họ. Hay có thể gọi là lực lượng lao động của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1. Chất lượng nguồn nhân lực Trên thực tế chưa có một khái niệm hoàn chỉnh để đo lường chất lượng và chất lượng NNL, ở mỗi lĩnh vực hoạt động, sản xuất khác nhau thì có các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng khác nhau.
Chất lượng cũng không ổn định theo một tiêu chuẩn nào mà thường biến đổi theo nhu cầu của con người. Theo tiêu chuẩn ISO 8402, chất lượng là tập hợp đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Chất lượng NNL chưa có một định nghĩa chính thức, trên thực tế các nghiên cứu chính thức thường sử dụng các khái niệm liên quan đến chất lượng dân số, hiệu quả lao động, chất lượng lao động, liên quan đến các chỉ số phát triển con người…Vì vậy, có thể hiểu chất lượng NNL là một khái niệm chỉ chất lượng con người nhưng xem xét con người với tư cách là một nguồn lực để phát triển. Theo Phùng Rân thì: “Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua hai tiêu chí: năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực đó.
Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Năng lực này là kết quả giáo dục đào tạo của cả cộng đồng chứ không riêng một tổ chức nào [18, Tr2]”. Năng lực của nguồn nhân lực thuộc về chuyên môn của nguồn nhân lực. Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực NNL dễ dàng hơn phẩm chất NNL.
Phẩm chất đạo đức NNL được biểu hiện qua thái độ, ý thức, phong cách làm việc, quan hệ lao động, văn hóa doanh nghiệp. và được hiểu là tâm lực lao động. 8 Theo Mai Quốc Chánh: "Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất" [4; Tr36]”. Theo quan điểm này thì chất lượng NNL được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ sức khỏe (thuộc thể lực), trình độ văn hóa, chuyên môn (thuộc trí lực) và năng lực phẩm chất (thuộc tâm lực).
Có thể thấy “chất lượng nguồn nhân lực” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá NNL. Dựa trên các khái niệm NNL và chất lượng, có thể hiểu chất lượng NNL là nguồn lực bên trong của con người cấu thành nên năng lực lao động có khả năng thỏa mãn nhu cầu đã đưa ra hoặc tiềm ẩn của người sử dụng lao động. Những thuộc tính bên trong của NNL là năng lực lao động của họ, bao gồm: thể lực, trí lực và tâm lực. Việc sử dụng và kết hợp các thuộc tính trong quá trình lao động để đạt các kết quả và hiệu quả công việc đặc ra.
- Thể lực: là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL, song sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng NNL, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người. - Trí lực: là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người.
Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hóa, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho NNL hoạt động mang tính chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa. Kỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển NNL ở xã hội công nghiệp. 9 - Tâm lực: còn gọi là phẩm chất tâm lý - xã hội, chính là tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động như tác phong làm việc, có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; kỹ năng làm việc nhóm; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Như vậy nội hàm của khái niệm về chất lượng NNL bao gồm: + Bộ phận phản ánh cá nhân của người lao động gồm: thể lực, trí lực và tâm lực + Bộ phận phản ánh chất lượng của tập thể các cá nhân thông qua quy mô, cơ cấu NNL và khả năng phối hợp các cá nhân trong quá trình thực hiện công việc.
+ Chất lượng NNL thể hiện thông qua những yêu cầu về tiêu chuẩn của thể lực, trí lực, tâm lực hoặc những yêu cầu về kết quả công việc, tiến độ hoàn thành công việc, năng suất lao động, hiệu quả công việc. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đối với cá nhân người lao động thì: “Nâng cao chất lượng NNL” là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội.