Chất lượng nguồn nhân lực tại Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng Lào - Nghiên cứu

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại Lào: Giải pháp và định hướng phát triển đội ngũ cán bộ ngoại giao chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản Lý Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2023

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Đối tƣợng nghiên cứu

6. Phạm vi nghiên cứu

7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

9. Bố cục của Luận văn

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHU VỰC CÔNG

1.1. Chất lƣợng nguồn nhân lực khu vực công

1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực

1.1.2. Khái niệm chất lượng

1.2. Đặc điểm, vai trò chất lƣợng nguồn nhân lực khu vực công

1.2.1. Đặc điểm chất lượng nguồn nhân lực khu vực công

1.2.2. Vai trò chất lượng nguồn nhân lực khu vực công

1.3. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực khu vực công

1.3.1. Số lượng nguồn nhân lực khu vực công

1.3.2. Trình độ, chuyên môn nguồn nhân lực khu vực công

1.3.3. Sức khỏe nguồn nhân lực khu vực công

1.3.4. Phẩm chất đạo đức trong quá trình thực thi công vụ nguồn nhân lực khu vực công

1.3.5. Kết quả thực thi công vụ nguồn nhân lực khu vực công

1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng chất lƣợng nguồn nhân lực khu vực công

1.4.1. Yếu tố khách quan

1.4.2. Yếu tố chủ quan

1.5. Kinh nghiệm chất lƣợng nguồn nhân lực khu vực công một số Bộ ngành ở Việt Nam và giá trị tham khảo cho Lào

1.5.1. Kinh nghiệm ở Việt Nam

1.5.2. Bài học có giá trị tham khảo

1.6. TIỂU KẾT CHƢƠNG 1

2. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỤC ĐỐI NGOẠI, BỘ QUỐC PHÒNG NƢỚC CHDC NHÂN DÂN LÀO

2.1. Khái quát về Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng, nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Đối ngoại

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Cục Đối ngoại

2.2. Phân tích thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực tại Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng, nƣớc CHDCND Lào

2.2.1. Thực trạng số lượng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại

2.2.2. Thực trạng về trình độ, chuyên môn nguồn nhân lực Cục Đối ngoại

2.2.3. Thực trạng về thể lực (sức khỏe) của nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng, nước CHDCND Lào

2.2.4. Thực trạng về phẩm chất đạo đức trong thực thi công vụ nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

2.2.5. Thực trạng về kết quả thực thi công vụ nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

2.3. Đánh giá chung về chất lƣợng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng, nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

2.3.1. Kết quả đạt được

2.3.2. Một số hạn chế

2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

2.4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 2

3. CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỤC ĐỐI NGOẠI, BỘ QUỐC PHÒNG NƢỚC CHDC NHÂN DÂN LÀO

3.1. Quan điểm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng nƣớc CHDC nhân dân Lào

3.1.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng cần phải bám sát vào các quan điểm của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức

3.1.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng cần căn cứ vào định hướng phát triển của ngành, lĩnh vực chuyên môn theo ngành dọc quản lý

3.1.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng cần gắn với cải cách hành chính, đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ quan

3.1.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng cần tính đến hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đảm bảo nguồn v nhân lực vừa có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt vừa có kiến thức, trình độ và kỹ năng nghiệp vụ, thái độ thực thi công việc

3.2. Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Cục đối ngoại, Bộ Quốc phòng, nƣớc CHDC Nhân dân Lào

3.2.1. Hoàn thiện thể chế về tuyển dụng nguồn nhân lực Cục đối ngoại, Bộ Quốc phòng, nước CHDCND Lào

3.2.2. Hoàn thiện hình thức tuyển dụng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

3.2.3. Thực hiện rộng rãi công khai, minh bạch trong tuyển dụng nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

3.2.4. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí chức danh nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

3.2.5. Đổi mới công tác đánh giá nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

3.2.6. Xây dựng văn hóa công vụ và tích cực tạo động lực thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

3.2.7. Hoàn thiện tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

3.3. TIỂU KẾT CHƢƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Nguồn Nhân Lực Cục Đối ngoại Lào

Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đang trên con đường phát triển, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, điều này đặt ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị khu vực công. Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng trong mọi tổ chức, giúp cho tổ chức có thể tồn tại và phát triển. Để nguồn lực con người thực sự có hiệu quả phải không ngừng phát huy, nâng cao hiệu quả của công tác quản trị nhân lực, đặc biệt là công tác tuyển dụng, sử dụng nhân lực và đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt của tổ chức trong đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc, quyết định lớn đến chất lượng nhân lực, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Trong hoạt động của nền hành chính, đội ngũ cán bộ công chức là lực lượng nòng cốt đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực thi chính sách của nhà nước; là người đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Vì vậy, vấn đề xây dựng đội ngũ công chức nhằm phục vụ hiệu quả cho hoạt động của nền hành chính, luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chú trọng hiện nay. Theo Luật Cán bộ, công chức 2015, cán bộ, công chức là công dân Lào được bầu cử, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Xây dựng đất nước Lào và các đoàn thể ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc công tác tại trụ sở đại diện cho nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở nước ngoài và tổ chức quốc tế được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng nước CHDCND Lào trong những năm qua công tác cán bộ có nhiều đổi mới, góp phần vào sự ổn định, phát triển của Cục nói riêng và của Bộ Quốc phòng nói chung. Có được điều này là do lãnh đạo Cục có được chính sách quản lý, phát triển tốt về nhân lực. Mà có được điều đó, khâu tuyển dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức đóng vai trò quan trọng, quyết định đến công tác cán bộ về sau, bởi lẽ khi tuyển chọn được những “hạt giống tốt” thì mới có thể có được sự phát triển lâu bền.

1.1. Tầm Quan Trọng của Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao

Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt, quyết định sự thành bại của mọi tổ chức, cơ quan. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc sở hữu một đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng làm việc hiệu quả và phẩm chất đạo đức tốt là vô cùng quan trọng. Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất lao động. (Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đăng trên báo điện tử của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh - Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính, đăng ngày 28.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet tin?dDocName=MOFUCM212408).

1.2. Khái Niệm và Tiêu Chí Đánh Giá Chất Lượng Nguồn Nhân Lực

Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp các yếu tố như trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khỏe, phẩm chất đạo đức và thái độ làm việc. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực thường bao gồm số lượng, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tình trạng sức khỏe và hiệu quả hoạt động thực thi công vụ.

II. Thực Trạng và Thách Thức Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Cục Đối ngoại

Đứng trước yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng và hiện đại hóa nền hành chính, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước, không chỉ ở cấp Trung ương mà cả cấp địa phương phải có đủ năng lực, giỏi về chuyên môn và tốt về phẩm chất chính trị mới có thể đưa nước CHDCND Lào vượt qua những thách thức và khó khăn, đồng thời góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh. Để thực hiện điều này, các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương 1 và địa phương đã thực hiện đổi mới chế độ tuyển dụng và quản lý, đào tạo, bồi dưỡng CBCC. Thông qua việc thi tuyển, sát hạch, kiểm tra, quản lý đội ngũ, qua kết quả hoạt động công vụ để đánh giá chất lượng, hiệu quả công việc qua đó thấy được trình độ, chất lượng đội ngũ đến đâu, từ đó có biện pháp, phương hướng phát triển cán bộ công chức đủ phẩm chất và năng lực vào làm việc trong bộ máy đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức đủ số lượng, đủ trình độ, kỹ năng thực thi công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng nước CHDCND Lào trong những năm qua công tác cán bộ có nhiều đổi mới, góp phần vào sự ổn định, phát triển của Cục nói riêng và của Bộ Quốc phòng nói chung. Bên cạnh những mặt đạt được như chất lượng cán bộ, công chức không ngừng được nâng cao cả về lý luận, thực tiễn, nghiệp vụ quản lý nhà nước,…thì vẫn còn tồn tại những tiêu cực, hạn chế nhất định như chất lượng cán bộ, công chức không đồng đều, trình độ tin học, ngoại ngữ còn hạn chế, ý thức pháp luật, kiến thức quản lý còn yếu kém,…

2.1. Đánh Giá Thực Trạng Năng Lực Cán Bộ Hiện Tại của Cục

Cần tiến hành đánh giá khách quan, toàn diện về năng lực cán bộ hiện tại của Cục, bao gồm số lượng, trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm, phẩm chất đạo đức và thái độ làm việc. Việc đánh giá cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng, minh bạch và phù hợp với yêu cầu công việc.

2.2. Các Vấn Đề Tồn Tại Trong Bồi Dưỡng Cán Bộ và Đào Tạo

Phân tích các vấn đề còn tồn tại trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Cục, như nội dung chương trình đào tạo chưa sát thực tế, phương pháp đào tạo còn lạc hậu, thiếu nguồn lực cho đào tạo, cơ chế khuyến khích đào tạo chưa hiệu quả, v.v.

2.3. Ảnh Hưởng Của Hội Nhập Quốc Tế Đến Phát Triển Nguồn Nhân Lực

Hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp quốc tế, khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa và kiến thức về luật pháp quốc tế.

III. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Cục Đối ngoại

Trước những vấn đề đó thì yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tăng cường nâng cao chất lượng cán bộ công chức ở Cục Đối ngoại để làm sao đội ngũ này đảm đương được trọng trách của đơn vị giao phó, phát triển mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị khác và với các quốc gia khác thông qua lĩnh vực quốc phòng và an ninh. Theo TS. Bùi Thị Ngọc Lan: “Trình độ học vấn là khả năng về tri thức và kĩ năng để có thể tiếp thu những kiến thức chuyên môn, kĩ thuật, sự hiểu biết về chính trị - xã hội. Trình độ học vấn được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân” . Nâng cao trình độ văn hóa không chỉ có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển NNL của cả quốc gia mà nó còn có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng NNL trong khu vực công. Do đó, các tô chức trong khu vực công nào có tỷ lệ lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học, trên đại học,… càng lớn thì cơ quan đó có trình độ trí lực càng cao.

3.1. Đổi Mới Chương Trình Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Cục Đối ngoại

Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phù hợp với yêu cầu công việc và định hướng phát triển của Cục. Chương trình đào tạo cần chú trọng cập nhật kiến thức mới, kỹ năng làm việc hiện đại và các vấn đề quốc tế. Tăng cường các khóa đào tạo ngắn hạn, chuyên sâu về các lĩnh vực cụ thể.

3.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Về Phát Triển Nguồn Nhân Lực

Mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế, các quốc gia có nền ngoại giao phát triển để trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực cho cán bộ. Gửi cán bộ đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài để tiếp thu kiến thức mới, kỹ năng tiên tiến.

3.3. Xây Dựng Môi Trường Làm Việc Chuyên Nghiệp Năng Động

Tạo môi trường làm việc thuận lợi để cán bộ phát huy tối đa năng lực, sở trường. Khuyến khích tinh thần sáng tạo, đổi mới và học hỏi. Xây dựng văn hóa công sở văn minh, chuyên nghiệp, đoàn kết.

IV. Chính Sách Phát Triển Nguồn Nhân Lực Toàn Diện Cục Đối ngoại

Chính sách xã hội là các quan điểm, chủ trương được thể chế hóa để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội, góp phần thực hiện công bằng xã hội, tiến bộ và phát triển con người. Chính sách xã hội là một công cụ không thể thiếu của QLNN nhằm thực hiện và điều chỉnh các mối quan hệ của con người xoay quanh mối quan hệ lợi ích cá nhân và xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn, phù hợp đảm bảo sự phát triển con người. Nó là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của con người, tạo điều kiện thuận lợi để họ say mê lao động phát triển khả năng sáng tạo của mình đóng góp cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội. Ngược lại, nếu hệ thống chính sách xã hội không đảm bảo sự phát triển con người, thiếu đồng bộ thì nó sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tư duy sáng tạo của nguồn nhân lực làm cho họ không có cơ hội được đóng góp sức mình cho sự phát triển của đất nước, nó tạo điều kiện cho sự phát triển các mục tiêu chung. Thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo trên sẽ là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển, mang lại hiệu lực, hiệu quả thiết thực trong đời sống xã hội của đất nước.

4.1. Hoàn Thiện Cơ Chế Tuyển Dụng Nguồn Nhân Lực Chất Lượng

Đổi mới phương thức tuyển dụng, chú trọng tuyển chọn những người có năng lực thực sự, có phẩm chất đạo đức tốt và có tinh thần trách nhiệm cao. Thực hiện công khai, minh bạch trong tuyển dụng.

4.2. Xây Dựng Chế Độ Đãi Ngộ Thỏa Đáng Cho Cán Bộ

Đảm bảo chế độ tiền lương, thưởng, phụ cấp và các chế độ đãi ngộ khác tương xứng với năng lực và đóng góp của cán bộ. Tạo điều kiện để cán bộ cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

4.3. Thúc Đẩy Hợp Tác Quốc Tế Về Nhân Sự Cục Đối ngoại

Mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế và các quốc gia tiên tiến để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Khuyến khích cán bộ tham gia các hoạt động giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với các nước.

V. Ứng Dụng và Kết Quả Nghiên Cứu Về Phát Triển Nhân Lực

Hiện nay, có nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực, nhưng về cơ bản thì để có nguồn nhân lực có chất lượng cao cần phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản như về thể lực, trí lực, tâm lực, hiệu quả công việc và về cơ cấu nguồn nhân lực thực hiện. Đối với nguồn nhân lực trong khu vực công hiện nay, để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, các cơ quan nhà nước khi tuyển dụng công chức thường đưa ra các tiêu chí để lựa chọn ứng viên vào các vị trí nhân sự cần tuyển dụng như các tiêu chí cơ bản như: (1) Dự báo nguồn nhân lực đủ tiêu chuẩn sử dụng. Tuyển dụng bổ sung khi có nhu cầu vị trí việc làm (ký hợp đồng làm việc có thời hạn) đối với những người có đủ trình độ, năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, các kỹ năng cần thiết; (2) Các cơ quan trong khu vực công phai cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ; (3) Bổ sung nhân sự kịp thời khi cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực công có biến động về số lượng hoặc phát sinh từ thực tiễn hoạt động quản lý.

5.1. Đánh Giá Hiệu Quả Các Chương Trình Đào Tạo Hiện Hành

Thực hiện đánh giá định kỳ và đột xuất các chương trình đào tạo hiện hành để xác định những điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất các giải pháp cải tiến.

5.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Thực Tiễn Quản Lý

Ứng dụng các kết quả nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực vào thực tiễn quản lý, tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ. Xây dựng cơ chế khuyến khích ứng dụng kết quả nghiên cứu.

VI. Tương Lai Phát Triển Nguồn Nhân Lực Cục Đối ngoại Lào

Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trong trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Chính vì vậy, mọi cơ quan, đơn vị cần chú trọng quan tâm, đầu tư để nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực, vì nguồn nhân lực mang tính chiến lược, lâu dài. Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ,.của người lao động.

6.1. Dự Báo Nhu Cầu Nguồn Nhân Lực Trong Tương Lai

Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của Cục trong tương lai, bao gồm số lượng, cơ cấu và trình độ chuyên môn. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

6.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Bền Vững

Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực bền vững, đảm bảo đáp ứng yêu cầu công việc và góp phần vào sự phát triển của Cục trong tương lai. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận có đủ năng lực và phẩm chất.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực khu vực công; Chương 2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Cục đối ngoại, Bộ Quốc phòng nước CHDC Nhân dân Lào; Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cục đối ngoại, Bộ Quốc phòng nước CHDC Nhân dân Lào.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHU VỰC CÔNG 1. Chất lƣợng nguồn nhân lực khu vực công 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất. Theo cách hiểu thông thường, NNL là nguồn lực con người của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định đang và có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội (KT–XH). Có quan điểm cho rằng, NNL được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được có khả năng điểm lại thu nhập trong tương lai.

Một quan điểm khác lại cho rằng, NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được trang bị ở các mức độ khác nhau sẵn sàng tham gia vào một công việc lao động nào đó, đó là những người lao động có kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Theo giáo trình kinh tế lao động thì: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển KT - XH. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ.) là ở chỗ: trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sống, sinh, chết.) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp. Chính vì vậy, nguồn nhân lực là một khái niệm khá phức tạp, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.

NNL còn được hiểu như là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Cách hiểu này muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con người, nghiêng về sự biến động tự nhiên của dân số và ảnh hưởng của nó tới sự biến động NNL. 10 Nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển KT - XH, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lượng hóa được, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng lao động, tức là bô phận chủ yếu và quan trọng nhất trong nguồn nhân lực.

Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượngsản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội. Theo Thuyết lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp NNL con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (trừ những người bị dị tật bẩm sinh).

Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT - XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Thuật ngữ nguồn nhân lực hiện nay có nhiều quan điểm và được định nghĩa khác nhau bởi các tổ chức thế giới. Theo Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng Thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”.

Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công 11 nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức lao động quốc tế thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Theo quan niệm của kinh tế phát triển, tiếp cận dưới góc độ của kinh tế chính trị có thể được hiểu: “Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước”. Ở Việt Nam, theo Giáo sư.

Hoàng Chí Bảo cho rằng: Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng - hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người tức là kết cấu bên trong của NNL bao gồm sức mạnh thể lực, trí tuệ và sự kết hợp hai yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên. Ở nước CHDCND Lào, nguồn nhân lực khu vực công đề cấp tới chính là người công chức, những người thực thi công vụ, làm việc trong các cơ quan nhà nước và được điều chỉnh bởi Luật cán bộ công chức năm 2015, có hiệu lực tháng 02. Trên cơ sở mục đích rõ ràng và cụ thể, Luật Cán bộ, công chức cũng chỉ ra khái niệm về cán bộ, công chức như sau. Tại Điều 2 của Luật ghi rõ: Cán bộ, công chức là công dân Lào được bầu cử, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Xây dựng đất nước Lào và các đoàn thể ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc công tác tại trụ sở đại diện cho nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở nước ngoài và tổ chức quốc tế được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Theo Luật Cán bộ, công chức 2015 bao gồm: + Công chức trong các cơ quan giúp việc của Đảng Nhân dân cách mạng 12 Lào; + Công chức trong các cơ quan nhà nước; + Công chức trong bộ máy giúp việc của Mặt trận xây dựng đất nước Lào và các tổ chức chính trị - xã hội; + Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; + Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; + Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.

Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển KT - XH và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển KT - XH, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Vì vậy, nguồn nhân lực còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc - đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng nguồn nhân lực. Dựa vào những phân tích nêu trên, theo quan điểm của tác giả có thể hiểu: Nguồn nhân lực khu vực công là những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị hành chính, tổ chức của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp cơ sở trong cả nước, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau theo quy định của pháp luật cán bộ công chức và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm chất lượng Khái niệm chất lượng theo từ điển tiếng Việt: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, một sự việc.

Chất lượng là 13 tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc); cái làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác. Có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực theo PGS.TS Nguyễn Tiệp: “nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố…) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội”.

Theo cách hiểu chung nhất thì: Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người. Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất lao động. (Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đăng trên báo điện tử của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh - Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính, đăng ngày 28.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet tin?dDocName=MOFUCM212408). Như vậy, có thể thấy rằng, Chất lượng nguồn nhân lực theo khái niệm trên là bao gồm phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực và thẩm mỹ của con người.

Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó chính là: Trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực: Là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người. Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực: Được biểu hiện bằng sự hiểu biết của nguồn nhân lực của tổ chức đối với kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội (như tỷ lệ nhân lực qua các lớp học, số lượng nhân lực biết chữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ