PHẦN MỞ ĐẦU I. Tổng quan tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. GIỚI THIỆU CHUNG I. Phạm vi nghiên cứu của đồ án.KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG I.
Mục tiêu nghiên cứu của đồ án. PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại 1 cấp quốc gia II.1 : ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HẠ TẦNG gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải II.1: Vị trí khu đất An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lóo, Kiến Thuỵ, Tiờn Lóng, Vĩnh II.2: Điều kiện hệ thống kỹ thuật hạ tầng Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 228 phường và thị trấn (70 phường, 10 II.2: NỘI DUNG THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH thị trấn và 148 xã). Chức năng sử dụng của công trình Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao II. Giải pháp kiến trúc thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và II.
Đối tượng và giới hạn nghiên cứu quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao II.3: NHIỆM VỤ & CÁC PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai II.1: Nhiệm vụ thiết kế hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Chính vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế – II.Các giải pháp thiết kế kiến trúc xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh Phương án chọn tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung Những ý đồ chính của phương án chọn tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước. Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú, giầu đẹp, đa dạng và có nhiều nét độc đáo thấp dần về phía nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa.
Nơi đây có rừng quốc gia Cát Bà - khu dự của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đó xảy ra quá trình sụt vùng với cường trữ sinh quyển thế giới - là khu rừng nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành về số lượng loài động thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Đồng thời, nơi đây cũng có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km từ hướng Tây Bắc - châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn. Dãy Kỳ của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp. chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lóng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - đông đông nam gồm nhiều a.Vị trí địa lý núi đá vôi.
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng Sông bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 210 01’ vĩ độ Bắc, và từ Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/1 km². Độ dốc khá 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bỡnh và phía Đông người nơi đây. Các con sông chính ở Hải Phòng gồm là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và 1.
Sông Đá Bạc - Bạch Đằng dài hơn 32 km, là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra biển sông Thái BÌnh. ở cửa Nam Triệu, là ranh giới giữa Hải Phòng với Quảng Ninh. Sông Cấm dài trên 30 km là nhánh của sông Kinh Môn, chảy qua nội thành và đổ Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, dân số 1.3 ngàn ra biển ở cửa Cấm. người (tính đến 01/04/2009), mật độ dân số trung bình của 3.
Sông Lạch Tray dài 45 km, là nhánh của sông Kinh Thầy, từ Kênh Đồng ra biển thành phố là 1.218,78 người/km2, vào loại trung bình so bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Dương và cả nội thành. với các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Sông Văn Úc dài 35 km chảy từ Quý Cao, đổ ra biển qua cửa sông Văn Úc làm thành ranh giới giữa hai huyện An Lão và Tiên Lãng. Sông Thái Bình có một phần là ranh giới giữa Hải Phòng với Thái Bình.
Đồi núi, đồng bằng 6. Sông Bạch Đằng 7. Ngoài ra cũng co nhiều con sông khác khá nhỏ nằm ở khu vực nội thành 1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI : quận Hồng Bàng.
Sông Rế chảy qua huyện An Dương, là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho 80% các *)Những khó khăn và thuận lợi của sự phát triển: hộ dân của thành phố. Những thuận lợi và cơ hội để phát triển kinh tế tri thức ở Hải Phòng Bờ biển và biển Thành phố Hải Phòng thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có khoảng 125 km chiều dài Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng, nước biển Đồ Sơn hơi đục đường bờ biển và trên 100.000 km2thềm lục địa, nằm trong hai hành lang, một vành đai nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp. hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, hội tụ đầy đủ đường sắt, đường bộ, đường Ngoài ra, Hải Phòng còn cú đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi không, đường biển nên có điều kiện rất thuận lợi để giao lưu, liên kết, hội nhập và hợp tác tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ. đẹp và ki thú.
Cát Bà cũng là kinh tế với các địa phương, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. đảo lớn nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long. Hải Phòng có lực lượng lao động tương đối lớn (số người trong lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2010 là 1,47 triệu người); so với nhiều tỉnh, thành, có nguồn nhân lực c.Khí Hậu trình độ học vấn và tay nghề tương đối khá (năm 2012 có 136.470 người có trình độ đại Thời tiết Hải Phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt học, cao đẳng trở lên, đạt 734 người có trình độ cao đẳng, đại học/1 vạn dân. Trong số đó Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, có 42 GS, PGS.
Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật tăng dần qua các năm. Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt độ trung bình vào mùa hè vào tháng 7 là 28,3 °C, tháng lạnh Hệ thống giáo dục phát triển khá tốt (chỉ số giáo dục đứng thứ 3 toàn quốc với 4 trường nhất là tháng 1:16,3 °C. Số giờ nắng trong năm cao nhất là các tháng mùa hè và thấp nhất đại học, 14 trường cao đẳng, 22 trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề).
Đây vào tháng 2, độ ẩm trung bình trên 80%, lượng mưa 1600–1800 mm/năm.Tuy nhiên thành là nền móng để Hải Phòng có thể tự giải quyết vấn đề nhân lực cho nhu cầu phát triển của phố cũng phải hứng chịu những đợt nắng nóng và đợt lạnh bất thường, năm 2011 nhiệt độ thành phố. Ngoài ra, số lượng kiều bào người Hải Phòng tương đối đông (giai đoạn 2000 trung bình tháng 1 của thành phố xuống tới 12,1 °C, gần đây nhất ngày 24/1/2016 thành - 2015, Hội liên lạc Việt kiều Hải Phòng đó quy tụ được trên 1.500 hội viên và thân nhân phố trải qua ngày có nhiệt độ lạnh trung bình thấp kỷ lục, nhiệt độ thấp nhất xuống tới ở nhiều nước trên thế giới). Trung bình cả năm 23,4 °C. Hệ thống kết cấu hạ tầng đó được cải thiện từng bước, đáp ứng được phần nào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội So với Hà Nội, thời tiết Hải Phòng có một chút khác biệt, thành phố mát hơn khoảng gần 1 độ vào mùa hè và lạnh hơn một chút về mùa đông, trong 30 năm gần đây do ảnh hưởng biến đổi khí hậu nhiệt độ thành phố đang có xu hướng tăng lên.
Những khó khăn, thách thức Thách thức lớn nhất của Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và nguồn lực cho phát triển có hạn. Nguồn nhân lực, mặc dù tăng nhanh về số lượng qua các năm, nhưng chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế tri thức. Trình độ, kỹ năng của phần lớn đội ngũ lao động còn hạn chế, nhất là các kỹ năng sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm. Cơ cấu lao động thành lập ở Pháp, Đức, Italy.
Hiện nay làng trẻ em SOS có mặt ở 132 quốc gia và vùng chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế tri thức. Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên lãnh thổ. 438 làng trẻ em SOS và 346 nhà thiếu nhi SOS mang đến ngôi nhà mới cho hơn cứu khoa học và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất còn hạn chế; 60.000 trẻ em tham gia các trường mẫu giáo SOS, các trường liên kết giữa các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp còn yếu; chưa thu hút được nhân Hermann Gmeiner và các trung tâm đào tào nghề SOS.